Ý nghiã chiến thắng 30/4
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Truyện kể Tây Tạng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Ngày gửi: 19h:07' 27-06-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Ngày gửi: 19h:07' 27-06-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRUYỆN KỂ TÂY TẠNG
Bản quyền tiếng Việt © Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam.
Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép hay phát
hành dưới bất kỳ hình thức hoặc phương tiện nào mà không có sự cho phép
trước bằng văn bản của đơn vị chủ quản.
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
65 Nguyễn Du - Hà Nội
Tel: 04 38222135 I Fax: 04 38222135
E-mail: nxbhoinhavan@hn.vnn.vn
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Bức tranh gấm
XƯA KIA, TRONG MỘT VÙNG CẰN CỖI DƯỚI CHÂN núi, có một
bà góa nghèo sống cùng ba người con trai. Người con cả là một tên vô tích
sự, người con thứ hai chẳng hơn gì, duy chỉ có người con út là thương người
và siêng năng, thường cố sức mình giúp mẹ. Bà mẹ dệt suốt ngày, dưới
những ngón tay khéo léo của bàn ở ra muôn bông hoa đẹp, vô số chim chóc
và đủ loại muông thú. Bà mang những tranh gấm ra chợ tỉnh gần đấy và đổi
lại đủ tiền nuôi các con cùng bản thân. Người con út thường vào rừng kiếm
củi, nhưng hai anh lớn thì lười biếng chỉ nằm ườn sưởi nắng chờ mẹ cho ăn.
Một hôm bà mẹ bán hết hàng sớm hơn thường lệ. Đang lang thang trong
chợ tìm người bán gạo rẻ, chợt bà chú ý đến một bức tranh lớn treo trong
một cửa hiệu. Bà đến gần đế xem kĩ hơn. Bức tranh th một ngọn núi giống
như ngọn núi sau làng bà, nhưng dưới chân núi, không phải những mái tranh
nghèo lụp xụp mà là những ngôi nhà nhỏ đẹp đẽ, sạch sẽ, quây quần. Ngôi
nhà đẹp nhất có nhiều tầng, sừng sững giữa một mảnh vườn có con suối lấp
lánh ánh bạc chảy qua, với một chiếc hồ nhỏ nơi đàn cá đỏ bơi lội tung tăng.
Trong sân gà vịt, gia cầm quanh quản kiếm ăn, những con cừu trắng gặm cỏ
trên đồi, những cánh đồng ngô vàng rực trải dài ngút tầm mắt. Bên trên bức
tranh trữ tình, tỏa sáng một vầng mặt trời đỏ rực.
Bị chinh phục bởi bức tranh đẹp, bà mẹ không thể rời mắt. Chẳng ki.p
nghĩ ngợi, bà dốc hết số tiền vừa bán gấm ra mua bức tranh. Trong túi chỉ
còn vài đồng, bà đong ít gạo mang về.
“Chỉ một lần”, bà tự nhủ, “chẳng phải gì ghê gớm. Lần sau, ta sẽ chuẩn
bị cho các con món gì đó tươm tất hơn.” Trên đường về, chốc chốc bà lại
dừng bước, giở cuộn tranh ra ngắm nghía. Sao mà những ngôi nhà sáng rỡ
đến thế, sao mà dòng suối lấp lánh đến thế, bà đếm xem có bao nhiêu gà, bao
nhiêu vịt, bà thán phục mảnh vườn rau tươi tốt, đến gần nhà, bà như ngửi
thấy mùi hương hoa lung linh trong vườn. Cảnh trong tranh khiến bà sung
sướng như chưa từng sung sướng thế trong đời.
về nhà, bà mẹ treo tranh ngoài cửa. Bà không thể rời mắt. Hai người con
lớn càu nhàu, chúng thấy thật lố bịch khi phí tiền mua một bức tranh, nhưng
người con út tuyên bố:
- Con chúc cho mẹ có được căn nhà như trong tranh, với một mảnh vườn
đẹp như thế. Nếu là mẹ, con sẽ dệt một bức tranh gấm theo mẫu này. Khi dệt
căn nhà, những bông hoa, dòng suối, đàn gà, mẹ sẽ có cảm tưởng có những
thứ đó thực. - Đừng làm mẹ kích động, người anh cả ngáp dài. Nếu mẹ dệt
chỉ vì ý thích thì lấy đâu ra tiền mà sống?
- Đúng thế, người anh thứ hai phụ họa, nếu mẹ muốn sống như một quý
phu nhân thì hãy chờ kiếp sau. Có thể sẽ sung sướng hơn hiện nay.
Nhưng ý của người con út khiến bà xiêu lòng.
- Đừng sợ mẹ làm khổ các con, bà dỗ dành. Mẹ sẽ dệt theo sở thích buổi
tối và sáng sớm. Mẹ đã nuôi nấng các con cho đến nay, mẹ sẽ tiếp tục nuôi
nấng các con. Dứt lời, bà đi mua những con chỉ đẹp nhất, và bắt tay vào dệt.
Suốt một năm dài bà mẹ ngồi bên khung cửi. Đêm nào bà cũng đốt một
ngọn đuốc, khói cay làm mắt bà đỏ hoe, nước mắt trào ra. Từng giọt nước
mắt trong như pha lê rơi xuống bức gấm bà đang dệt, bà hòa nhập chúng vào
bức tranh. Bằng cách ấy, bà mẹ dệt bằng nước mắt con suối nhỏ và mặt hồ
gợn sóng rập rờ
Năm thứ hai, đôi mắt bà mẹ tội nghiệp rát bỏng đến ứa máu, những giọt
nước mắt đỏ tươi rơi xuống bức gấm. Bà hòa nhập chúng vào tranh. Bằng
cách ấy, bà dệt nên những bông hoa đỏ và mặt trời màu đồng chiếu sáng trên
vòm trời.
Năm thứ ba, bức tranh gấm hoàn thành. Nó chứa đựng tất cả những gì có
trong bức tranh mẫu. Một vùng ngợp màu xanh dưới chân ngọn núi cao,
những căn nhà lấp lánh ánh bạc, những cánh đồng ngô vàng rực, những
mảnh vườn rau, cây ăn quả, những bụi rậm điểm tô, và nơi rìa làng, thay vì
căn nhà tồi tàn của bà mẹ là một tòa nhà to cao lừng lững, với những cột đỏ,
cửa vàng và mái lam. Phía sau nhà, những con cừu gặm cỏ trên đồi xanh,
cùng những con trâu, con bò, gà con vàng ươm, vịt con nô đùa trên cỏ,
những chú chim rạch không trung sải cánh bay nhanh.
Lớp cảnh trước của bức tranh là một mảnh vườn cây cối xum xuê, hoa
nở tưng bừng, chính giữa là một hồ nhỏ với đàn cá đỏ, từ đó phun ra một
dòng suối lấp lánh ánh bạc chảy qua cánh đồng lúa. Phía sau làng là những
cánh đồng ngô vàng rực, trải dài ngút tầm mắt. Tít trên cao, mặt trời màu
đồng lấp lánh trên nền trời xanh.
Bà mẹ giụi cặp mắt đỏ hoe, nở một nụ cười mãn nguyện. - Lại đây
xem, các con, đẹp xiết bao!
Ba người con sán lại, trầm trồ thán phục.
- Nếu đem bán thì được bao nhiêu tiền vàng nhỉ? Người con cả hỏi.
- Với một món hàng thế này, có thể được món tiền khá đấy, người con
thứ hai phụ họa. Nhưng người con út tuyên bố:
- Mẹ chúng ta đã xây cho chúng ta một ngôi nhà bằng gấm. Chúng ta hãy
chiêm ngưỡng và sống ở đó bằng tâm tưởng.
- Mẹ dệt bức tranh theo sở thích.
Mẹ sẽ không bán cho ai cả. Nhưng ở đây, trong bóng tối, mẹ con ta
không nhìn rõ những gì trên đó. Hãy mang ra ánh sáng.
Bà mẹ treo bức tranh gấm của mình ra ngoài. Tất cả màu sắc đều rực rỡ.
Chỉ dưới ánh sáng ngày rất tỏ, người ta mới thấy bức tranh đẹp đến thế nào.
Xóm giềng xúm lại ngắm nghía, ai nấy trầm trồ khen khiến bà mẹ cười sung
sướng.
Thốt nhiên bà cảm thấy một làn gió mát mơn man trên má mình. Bức
gấm rung rinh. Một cơn gió mạnh lay động nó như đập thảm và cuối cùng
giật tung nó khỏi cánh cửa. Thoáng sau, bức tranh đã bay rất xa trong không
trung.
Bà mẹ kêu lên và ngất đi. Xóm giềng chạy tản ra khắp nơi tìm bức tranh,
những người con cũng tìm khắp xung quanh, nhưng không ai tìm được.
Sau hôm mát tranh, bà mẹ bắt đầu lang thang như một linh hồn chịu tội.
Người con út cố hết sức phục hồi sức khỏe cho mẹ, nấu xúp gừng cho mẹ ăn,
nhưng bà vẫn suy sụp đi trông thấy.
Một thời gian sau, bà gọi người con cả đến, bảo:
- Con ơi, nếu con muốn mẹ còn sống thì hãy đi tìm bức tranh gấm mang
về đây. Không có nó, khác nào mẹ mất nửa cuộc đời.
Người con cả xỏ dép và đi về phía Đông. Sau một tháng anh ta đến một
hẻm núi, nơi đó có một căn lều đá. Trước lều có một con ngựa vươn cổ lên
bụi dâu tây. “Tại sao con ngựa không ăn quả dâu tây?” người con cả tự hỏi.
“Tại sao nó đứng đấy, vươn cổ, há mõm?” Lại gần hơn, anh ta nhận ra con
ngựa là ngựa đá. Người con cả hết sức ngạc nhiên. Anh ta đứng thần người,
sửng sốt ngắm nhìn con ngựa đá và căn lều đá, bỗng một bà già tươi cười
xuất hiện trên ngưỡng cửa:
- Con tìm gì ở đây, con trai của ta? Bà niềm nở hỏi.
- Con tìm một bức tranh gấm do mẹ con dệt, người con cả đáp. Bức tranh
thể hiện cảnh một ngôi nhà, một dòng suối, một mảnh vườn, đàn gia cầm,
mặt trời và những bông hoa. Vì bức tranh ấy, chúng con đã ăn không ngon,
ngủ không yên suốt ba năm ròng, mẹ con vừa dệt xong thì gió cuốn đi mất,
có Trời biết là đi đâu. Mẹ sai con đi tìm. Tình cờ bà có thấy nó ở đâu không?
- Có, ta có biết, bà già nhún vai nói. Các nàng tiên Núi Mặt trời đã mượn
bức tranh ấy đấy! Các nàng muốn dùng nó làm mẫu để mỗi nàng thêu một
bức gấm đẹp.
- Con hài lòng được biết phải đi đâu mà tìm, người con cả thở phào nhẹ
nhõm. Bà có thế chỉ đường cho con đến Núi Mặt trời không? Con sẽ đến
thẳng nơi ấy, xong mới yên tâm được.
- Nói thì dễ, làm thì khó đấy, bà già cười khe khẽ. Muốn đến Núi Mặt
trời, con không có cách nào khác là cưỡi con ngựa này.
- Nhưng con ngựa này bằng đá! Người con cả nhận xét.
- Không quan trọng, bà già nói. Con ngựa sẽ hồi sinh, nếu con trồng vào
lợi nó răng của con để nó có thể ăn được mười quả dâu. Nếu con muốn, ta có
thể đánh rụng răng con bằng hòn đá này.
Người con cả sợ hãi nhìn bà già. Đầu gối anh ta run lẩy bảy.
- Cái đó còn chưa thấm vào đâu, bà già tiếp tục, không để ý đến vẻ sợ hãi
của anh chàng. Trên con ngựa này, con phải băng qua một núi lửa, phải vượt
qua một biển băng, thoát khỏi biển băng con sẽ thấy Núi Mặt Trời và các
nàng tiên. Nhưng nếu dọc đường con chỉ thở dài một tiếng thì hoặc lửa sẽ
đốt con thành tro bụi, hoặc những tảng băng sẽ tiêu diệt con, hoặc sóng biển
sẽ nhận chìm con.
Người con cả vội lùi lại một hai bước, nhìn con đường mình vừa đi tới.
Bà già mỉm cười:
- Nếu trái tim con không mách bảo thì đừng khiên cưỡng! Tốt hơn hãy
trở về nhà. Ta sẽ cho con một hộp nhỏ đầy tiền vàng để đi đường.
- Bà sẽ cho con tiền vàng, không phải đổi gì sao? Người con cả sững sờ
hỏi.
- Phải, không đổi gì cả. Hoặc nếu muốn, để con có cái ăn khi đói, bà già
lạ lùng trả lời.
- Chúa tôi, nếu quả vậy, con ưng quay về nhà... Người con cả cầm lấy
tiền và biến mất bằng con đường đã đưa anh ta đến.
Đến ngã tư, anh ta tự nhủ: “Số vàng này, cho một người thì đủ,nhưng
nếu chia tư thì ít quá. Ta ưng ra thành phố hơn là về nhà. Ta sẽ sống như một
lãnh chúa!” Thế là anh ta ra thành phố.
Thấy lâu quá mà con cả không trở lại, bà mẹ bảo người con thứ:
- Anh con chu du, chẳng biết đi đâu? Có lẽ nó đã quên chúng ta rồi. Con
trai, con hãy đi tìm cho mẹ bức tranh gấm.
Người con thứ xỏ dép và lên đường. Anh ta đi một ngày, một tuần,một
tháng và đến túp lều đá. Anh ta trông thấy con ngựa đá vươn cổ lên những
quả dâu. Một bà già hiện ra trên ngưỡng cửa, hỏi:
- Trận gió lành nào đưa con đến nơi này, con trai của ta?
- Con tìm bức tranh gấm mẹ con dệt. Gió đã cuốn đi.
- Anh cả con đã qua đây, bà già thở dài, nhưng nó sợ đi đoạt lại bức gấm
phải qua lửa, qua băng, phải cưỡi trên con ngựa nà
- Nhưng đây là con ngựa đá?
- Nếu con chịu nhổ răng bằng một hòn đá, để ta có thể trồng răng của con
cho con ngựa, ngay khi con ngựa ăn được mười quả dâu, nó sẽ sống lại và
mang con đến bên các nàng tiên của Núi Mặt Trời. Các nàng sẽ trả con bức
tranh.
- Chỉ còn thiếu nước ấy nữa thôi, con sẽ bị nhổ răng! Người con thứ
hoảng sợ. Con ưng quay về nhà hơn.
- Nếu vậy, ta sẽ cho con một hộp tiền vàng. Anh con cũng đã được ngần
ấy.
“Chính vì lẽ đó mà anh trai ta không trở về nhà,” người con thứ nghĩ
bụng. “Anh ấy làm thế là đúng. Anh ấy hưởng tiền một mình.” Người con
thứ cầm hộp tiền vàng bà già cho, lễ phép cảm ơn, rồi ba chân bốn cẳng
chuồn mất. Đến ngã tư đường, anh ta không do dự một giây, đi thẳng ra
thành phố. “Giờ đây, ta sẽ tận hưởng thời vận của ta!” anh ta khấp khởi
mừng thầm.
“Tại sao ta phải chia sẻ cho người khác?”
Một tháng nữa lại trôi qua, bà mẹ gọi con út đến và bảo:
- Con ơi, mẹ giờ yếu như một con ruồi. Nếu không tìm lại được bức gấm,
mẹ sẽ không cầm cự được bao lâu nữa. Hai anh con đi rong chơi, chẳng biết
ở nơi nào? Chắc chúng không còn nghĩ gì đến chúng ta. Con vẫn là đứa con
mẹ tin cậy nhất. Con hãy đi tìm bức gấm cho mẹ.
Người con út xỏ dép và lên đường. Chàng đến hẻm núi, nơi phía trước
căn lều đá có con ngựa đá đang vươn cổ lên chùm dâu, và trên ngưỡng cửa là
một bà già nhỏ bé như chờ chàng. Bà chào đón chàng và nói:
- Đường đến bức tranh gấm rất gian nan. Hai anh con đã ưng nhận của ta
mỗi người một hộp tiền vàng, đi ra thành phố rồi.
- Con không sợ gì hết, con không cần vàng. Tiền vàng không trả lại cho
mẹ con sức khỏe. Con phải làm gì đây để lấy lại bức tranh gấm cho mẹ
mình?
Bà già nói cho người con út biết đường đi phải qua lửa và đá băng. Bà
cũng nói muốn làm con ngựa sống lại phải cho nó răng của chàng. Bà chưa
dứt lời chàng trai đã lấy một hòn đá đập gẫy răng mình, cấy vào hàm ngựa.
Con ngựa sống lại, ăn mười quả dâu. chàng trai nhảy lên mình ngựa phi
nhanh như gió.
- Đừng quên con không được thở dài một tiếng, ngay cả khi lửa liếm vào
con và băng làm sầy da con, nếu thở dài con sẽ chết! Bà già nhỏ bé gọi với
theo.
Mệt đứt hơi, chàng trai phi ngựa càng lúc càng sâu vào vùng núi đá, đến
một nơi lửa phun ra từ lòng đất. Chàng trai thúc ngựa, vượt qua bức tường
lửa. Lửa thiêu đốt chàng, làm chàng ngạt thở, nhưng chàng không thở dài
một tiếng nào. Khi chàng tưởng lửa sắp thiêu chết mình thì con ngựa nhảy
một bước dài, chưa ki.p hiểu rõ sự tình đã thấy cả người cả ngựa trên một
con đường mòn râm mát giữa các tảng đá. Người con út lau mồ hôi trán, hít
đầy lồng ngực không khí mát lành, rồi thúc ngựa, tiếp tục cuộc hành trình.
Thày trò đi như thế rất lâu, lâu lắm, đến khi chàng trai cảm thấy một luồng
khí lạnh. Xa xa nghe có tiếng ầm ầm. Chàng trai lại thúc ngựa. Thầy trò phi
như gió, chợt con đường kẹt giữa những mỏm đá nhô ra. Con ngựa dừng lại.
Chàng trai rét run, đưa mắt nhìn xung quanh. Thầy trò đang đứng trước
mênh mông biển sóng. Nhìn đến ngút tầm mắt, phía trước họ một biển băng
vô tận, với những núi băng trôi khổng lồ đầy đe dọa, va vào nhau răng rắc.
Xa tít tắp phía bên kia biển băng, có thể hình dung một ngọn núi xanh chan
hòa ánh nắng mặt trời.
“Núi Mặt Trời!” người con út reo lên. “Mau, ngựa tốt của ta, phải gấp
lên, chúng ta gần đến nơi rồi!” Con ngựa nhảy không do dự xuống làn sóng
băng. Khối băng chuyến động đốt cháy và cào xước da chàng kị sĩ, những
con sóng xô đẩy chàng, đe dọa đánh ngã chàng. Nhưng chàng trai mím chặt
môi, không một tiếng thở dài. Khi chàng tưởng mình sắp chìm ngập trong
băng thì con ngựa vừa tới bờ. Mặt trời ấm áp tức thì sấy khô quần áo chàng,
làm liền sẹo các vết thương của chàng và trước khi kịp hiểu ra sao, chàng đã
ở trên đỉnh núi. Trước mặt chàng lấp lánh một tòa lâu đài pha lê. Tiếng cười,
tiếng hát của các thiếu nữ vẳng đến từ ngoài vườn.
Chàng trai qua cổng sân chầu, đoạn nhảy xuống ngựa. Chàng thấy trước
mắt mình một đám các thiếu nữ vô cùng xinh đẹp đang dệt gấm. Bức tranh
của mẹ chàng đặt ở giữa. Trông thấy chàng trai, các thiếu nữ bỏ khung cửi,
xúm quanh cười đùa. Thiếu nữ trẻ nhất, mặc áo đỏ sẫm, chàng thấy đặc biệt
dễ thương.
Giữa lúc đó, một phu nhân rất đẹp tiến lại gần chàng. Bà mặc một chiếc
áo óng ánh như phản chiếu của muôn tia nắng mặt trời trên biển. Mái tóc dài
của bà được giữ bằng một chiếc lược vàng.
- Ta là Chúa tiên, bà nói. Chưa ai từng đến đây. Tại sao con thực hiện
chuyến đi nguy hiểm này?
- Con đến tìm bức tranh gấm của mẹ con. Gió đã mang nó đến tận lâu đài
của bà, và mẹ c đã ngã bệnh.
- Chẳng phải ngẫu nhiên gió cuốn bức tranh gấm của mẹ con đến đây,
chính chúng ta đã ra lệnh cho gió. Chúng ta muốn dùng bức gấm ấy làm mẫu
dệt cho mỗi chúng ta một bức tranh đẹp. Nếu con cho chúng ta đêm nay nữa,
ngày mai con có thể mang bức gấm đi. Và trong lúc chờ đợi, con là khách
của chúng ta, Chúa tiên mỉm cười nói.
Chàng trai sống trong một giấc mơ. Các nàng tiên xúm quanh chàng cười
đùa. Các nàng cho chàng nếm rượu tiên và thức ăn nơi tiên giới, như các
thánh thần được thế. Sau đó, các nàng nhanh chóng bắt tay vào công việc.
Các nàng dệt đến chiều tối. Khi hoàng hôn buông xuống, các nàng treo trên
vòm trời một viên ngọc lấp lánh, chiếu sáng trong đêm, và các nàng lại dệt
đến nửa đêm mới đi ngủ. Chàng trai kiệt sức vì bấy nhiêu cảm xúc, lăn ra
ngủ li bì. Riêng nàng tiên trẻ nhất, nàng tiên chàng ưng ngay từ phút đầu,
vẫn thức. Nàng ngắm nhìn bức tranh của bà mẹ, rồi bức tranh của mình, và
thở dài. Không nàng tiên nào dệt được bức tranh đẹp như bức tranh của bà.
Không dòng suối nào lấp lánh bằng dòng suối dệt bằng nước mắt của bà,
không mặt trời nào chiếu tỏa bằng mặt trời thấm máu của bà. Nàng tiên trẻ
nhìn chàng trai đang ngủ, và nảy ra một ý. Nàng lấy một sợi chỉ lụa, thêu
trên bức tranh của bà mẹ một nàng tiên nhỏ mặc áo đỏ sẫm, đứng bên bờ hồ
nhìn đàn cá đỏ.
Chàng trai trẻ thức giấc lúc nửa đêm. Gian phòng trống vắng. Giữa
phòng chỉ có duy nhất bức tranh của mẹ chàng. Chàng trai chiêm ngưỡng
bức tranh giây lát, rồi tự nhủ: “Tại sao phải đợi đến sáng mai? Mẹ ta đang
ốm, và tình trạng của mẹ xấu đi từng ngày.” Chàng cuộn bức gấm luồn vào
trong áo choàng, nhảy lên ngựa và trở lại con đường băng lửa. Sóng biển
tuyệt vọng quăng về phía chàng những khối băng to nhất, núi lửa thè những
lưỡi lửa chực nuốt chửng chàng. Chàng trai trẻ không hề thở dài và, trước
khi kịp hiểu rõ sự tình, đã thấy mình đứng trước túp lều đá. Bà già bé nhỏ
tươi cười chờ chàng trước ngưỡng cửa:
- Ta sung sướng thấy con trở về, con trai của ta. Con là một chàng trai tốt
bụng và dũng cảm. Con đã đạt được điều con muốn. Ta sẽ trả lại răng cho
con. Bà lấy răng trên hàm ngựa trồng lại vào hàm răng của chàng trai. Lập
tức, con ngựa hóa đá.
- Con hãy cầm lấy, đây là đôi dép bằng da hươu, bà già tốt bụng bảo
chàng, xỏ đôi dép này vào, con sẽ nhanh chóng về tới nhà.
Chàng trai nồng nhiệt cảm ơn bà già nhân hậu đã tận tình giúp đỡ, đoạn
xỏ đôi dép bằng da hươu và, chẳng biết bằng cách nào, chàng đã đứng trước
căn nhà nhỏ thân thuộc. Trông thấy chàng, một bà hàng xóm chạy ra. Bà rầu
rĩ nói: Thật tốt là cháu đã về. Ai biết mẹ cháu sẽ ra sao. Bà không ra
khỏi nhà nữa, mắt sắp lòa rồi. Bác không biết...
Chàng trai chạy bổ vào nhà và kêu to: “Mẹ ơi, nhìn này, nhìn này!”
Chàng lấy bức gấm trong áo giở ra. Gian phòng bừng sáng.
Biết con trai đã mang về cho mình bức tranh gấm, bà mẹ reo lên vui
mừng. Lập tức bà khỏi bệnh. Bà xuống giường, ngạc nhiên thấy sức khỏe
của mình phục hồi nhanh chóng.
Bà nhìn bức tranh, đột nhiên bà thấy nó nhiều lần đẹp hơn, bà bảo con
trai:
- Con hãy mang nó ra ngoài, để mọi người có thể nhìn nó rõ hơn.
Người con út mang bức tranh ra ngoài ánh sáng và giở. Màu sắc sáng
ngời ngời. Thình lỉnh, một trận gió nổi lên và bức tranh trải ra xa, xa hơn
nữa, cuối cùng trùm lên toàn bộ cảnh vật xung quanh. Bà mẹ bước ra từ một
ngôi nhà tầng đẹp đẽ. Bà nhìn quanh, mắt đẫm lệ hạnh phúc. Trải ngút tầm
mắt, những cánh đồng ngô vàng rực đến tận chân núi, những đàn gia súc
nhởn nhơ gặm cỏ, đám mây gà con vàng ươm tung tăng giữa bầy vịt con,
một mảnh vườn đẹp có dòng suối chảy qua, và trong vườn muôn bông hoa
đẹp nhất nở tưng bừng. Cảnh vật thiên nhiên y như trong bức tranh. Từ
những căn nhà nhỏ lấp lánh ánh bạc, xóm giềng chạy ra, choáng ngợp,
không thể tin vào điều kỳ diệu này.
Người con út nắm tay mẹ mình dắt ra vườn. Hai mẹ con bước chầm
chậm đến bên bờ hồ nhỏ, không thể tin nổi trước bấy nhiêu điều kỳ ảo. Đột
nhiên, người con sững sờ dừng bước, tim đập dồn dập. Bên hồ là nàng tiên
nhỏ xinh đẹp áo đỏ sẫm, đang mỉm cười với chàng.
- Nàng từ đâu đến? Chàng trai hỏi. Nàng tiên cất tiếng cười trong veo,
đoạn chớp chớp mắt thỏ thẻ.
- Em thêu mình trên bức tranh của mẹ chàng và chàng đã mang em theo.
Vì bức tranh sống dậy nên em ở đây.
Bà mẹ nhìn nàng, hết sức sung sướng.
- Bây giờ, chúng ta đã có một ngôi nhà lớn, chỉ thiếu một cô con gái nữa
thôi.
Nàng tiên nhìn chàng trai trẻ đang tiến lại phía mình.
- Nàng có thuận tình láy ta không? Chàng khẽ hỏi. Nàng tiên gật đầu tỏ ý
ưng thuận.
Một bữa tiệc lớn được tổ chức mừng hôn lễ. Ngoài xóm giềng, bà mẹ
mời tất cả hành khất trong . Hai người anh lớn cũng nghe phong thanh. Từ
lâu họ đã tiêu xài hết những đồng tiền vàng, hoặc do thói quen được người
khác nuôi, họ trở thành ăn mày. về đến căn nhà xưa, thấy cảnh vật đổi thay,
họ xấu hổ vì quần áo rách rưới, không dám vào. Họ bỏ đi xa, thế rồi mất tăm
trong thế giới rộng lớn.
Người con trai út, cùng cô vợ tiên và bà mẹ, sống hạnh phúc trọn đời
trong một miền trù phú dưới mặt trời ấm áp.
Thầy tu và anh thợ mộc
NGÀY XỬA NGÀY XƯA, XƯA ĐẾN NỖI KHÔNG AI CÒN nhớ nữa,
tại một vương quốc nọ có một anh thợ mộc và một lão thầy tu.
Lão thầy tu là một kẻ độc ác và hám tiền. Một ngày đẹp trời nọ, lão ta tỉ
tê bảo anh thợ mộc:
- Anh hãy xây cho ta một ngôi nhà, để thưởng công, ta sẽ cầu thần linh
ban cho anh hạnh phúc.
- Những lời cầu nguyện của ông, tôi chả thiết! Anh thợ mộc cộc lốc đáp
lời. Hạnh phúc và vận may của tôi là do đôi bàn tay và chiếc rìu này mang
lại.
“Mi chẳng mất gì để mà chờ đợi”, thầy tu hậm hực nghĩ bụng, “mi sẽ
phải trả giá vì thói hỗn xược của mình!” Ngày đêm lão ta nghĩ cách trả thù
anh thợ mộc. Sau cùng lão ta cũng tìm ra. Lão ta tâu với nhà vua:
- Tâu hoàng thượng, thần xin được mạn phép tâu rằng, hôm qua, thần đã
ở trên trời. Thần đã gặp ai? Chính là nhà vua quá cố, phụ hoàng của hoàng
thượng. Mọi sự đều rất tốt đẹp, trừ việc Người nói với thần Người muốn cho
xây một ngôi đền, nhưng như hoàng thượng đã rõ, trên trời không có nhiều
thợ mộc. Vì thế Người khẩn thiết yêu cầu hoàng thượng gửi cho Người anh
thợ mộc của hoàng cung, vì anh là một thợ mộc tài hoa.
- Tại sao không, nhà vua đồng ý ngay lập tức. Nhưng làm thế nào gửi
anh thợ mộc lên cho Người bây giờ?
- Xin hoàng thượng đừng lo! Các thầy tu chúng thần ít nhiều có kinh
nghiệm trong những chuyện thế này, thầy tu trình bày kế hoạch của lão ta
với nhà vua. Thần sẽ làm một cái lều gỗ nhốt anh thợ mộc vào trong, xếp
quanh lều một đống củi lớn rồi châm lửa. Khi lều bén lửa, một làn khói trắng
sẽ bốc lên trời. Trên làn khói ấy, như cưỡi trên mình ngựa, anh thợ mộc sẽ
lên hầu đức vua quá cố.
Nhà vua chấp thuận và sai báo cho anh thợ mộc biết.
- Tôi có thể làm gì được, khốn khổ thân tôi, anh thợ mộc than thở với vợ
khi trở về nhà. Lão thầy tu muốn tôi chết.
- Mình có thể làm gì ư? Có khó gì! Chị vợ bảo chồng. Ngay tối nay,
chúng mình sẽ đào một đường hầm từ nhà chúng mình đến cái lều gỗ người
ta đang dựng. Ngày mai, mình sẽ nhanh chóng trở về theo đường hầm ấy!
Ngày hôm sau, người ta đến tìm anh thợ mộc, nhốt anh vào trong lều,
xếp củi xung quanh và châm lửa. Khi khói trắng bắt đầu bốc lên, thầy tu la
toáng:
- Hãy nhìn kìa! Chính anh ta đấy, Người trông thấy anh ta phải không?
Người có thấy anh ta vội vã lên trời, trên con ngựa bạch không?
Chẳng ai thấy gì ngoài khói. Nhưng mọi người đều làm như trông thấy
anh thợ mộc trên con ngựa của anh.
Trong khi đó, anh thợ mộc về nhà theo con đường hầm, nấp kĩ sau lò
sưởi, suốt một tháng không thò mũi ra ngoài, suy nghĩ cách trả thù thầy tu.
Sau một tháng. Anh ra trình diện đàng hoàng trong cung vua. Ai nấy nhìn
anh tròn mắt, nhất là lão thầy tu.
- Ngươi đã về đấy à? Nhà vua ngạc nhiên hỏi.
- Như hoàng thượng đã thấy, thần từ trên trời về thẳng đây, anh thợ mộc
trả lời và cung kính cúi đầu. Xây ngôi đền thật là vất vả! Tâu hoàng thượng,
trên trời, họ làm ăn còn lạc hậu lắm.
Nhưng thần đã xây dựng xong cho đức vua quá cố một ngôi đền. Người
rất hài lòng. Hiện giờ, Người chỉ còn một yêu cầu, thần xin tâu lên hoàng
thượng. Trong ngôi đền mới, cố nhiên phải có một thầy tu. Hoàng thượng
biết rõ hơn ai hết: Một ngôi đền mà không có thầy tu là điều không sao
tưởng nối. Thêm nữa, đức vua quá cố không chấp nhận một thầy tu bất kỳ
nào trong ngôi đền đẹp đẽ trên trời của Người. Phải là một thầy tu vĩ đại!
Đức vua quá cố của Người muốn có thầy tu của hoàng cung, bởi người ta đã
đồn lên tận trời vinh quang và trí tuệ thông thái của ông.
- Chắc chắn ta có thể dâng lên Người thầy tu của ta, nhưng làm thế nào
gửi ông ta lên trên ấy?
- Như cách của thần, tâu hoàng thượng, như cách của thần! Anh thợ mộc
trả lời, vờ như ngây thơ. Đó là cách nhanh nhất.
Thầy tu sợ tái xanh tái tử, nhưng không thể nào thoái thác. Lão ta chặc
lưỡi: “Dầu sao, nếu gã thợ mộc có thể từ trời về được, tại sao ta lại không?”
Ngây thơ, lão để mặc mọi người nhốt mình vào lều và nối lửa.
Ngọn lửa bùng lên cao, cao mãi, một cột khói đen nặng bốc lên, mang
theo lên trời linh hồn đen tối của lão thầy tu độc ác.
Họa sĩ Touo-lan-ka
RẤT XA Ở MIỀN NAM TRUNG QUỐC, NƠI NHỮNG người Tai sinh
sống, có một thôn làng vây quanh bởi những bãi trồng cọ. Không xa ngoài
rìa làng, bên bờ một con sông nước trong vắt, sừng sững một cái chòi cũ nát,
bằng tre ken lại với nhau. Đó là nơi rất xa xưa họa sĩ Touo-lan-ka từng sống,
ông không phải là một họa sĩ bình thường, khó tìm thấy một người giống
ông. Ông say mê hội họa như bị “ma ám”, ông vẽ trên bất cứ thứ gì vô tình
rơi vào tay: trên giấy, trên lụa hay trên gỗ. Ông hiếm khi ra ngoài, chỉ lúc
này hay lúc khác ghé qua đền thờ, hoặc vào làng, nhưng đừng tưởng để cầu
nguyện hoặc dâng lễ vật cúng các vị thần. Không! Điều này không thuộc bản
tính của ông. Ông ngồi đó, im lặng trong một góc, quan sát những người vào
ra,ghi khắc những nét riêng biệt của họ vào tâm trí. về nhà, ông giam mình
trong chòi, vớ lấy bút và bắt đầu vẽ, vẽ và vẽ. Dầu cho bên ngoài mặt trời có
chói chang, mặt trăng lạnh có tỏa sáng, ông cũng không hay biết. Mỗi ngày
ông vẽ bảy gương mặt, sau một tuần thành bảy lần bảy bốn mươi chín gương
mặt, treo trên vách chòi tre. Cho tới một đêm - đó là một đêm dông bão, gió
điên cuồng thổi cây cối đổ rạp, sấm rền vang - ông vừa vẽ xong khuôn mặt
thứ bốn mươi chín của tuần thì có ai đó đập cửa.
ó thể là ai đây?” Họa sĩ càu nhàu. “Kẻ nào ma dẫn lối quỷ đưa đường đến
đây vào lúc gió bão, đến con cú cũng phải nằm im thế này?”
- Ta là Thần Chết. Ta cai quản linh hồn những người chết ở vùng này.
Đêm nay Ngọc hoàng sai ta đến bắt ngươi.
“Sao Thiên lôi không đánh chết mi, tên đáng nguyền rủa!” Touo-lan-ka
nghĩ, cảm thấy trong lòng một nỗi buồn sâu xa. Thu hết can đảm, ông ra mở
cửa. Trên ngưỡng cửa, sừng sững một bóng đen, tối tăm hơn đêm tối.
- Vào đi, Touo-lan-ka bảo, nhưng mi phải đợi một lát, ta còn phải vẽ
xong bức này. Rồi như chẳng có gì xảy ra, ông quay lưng lại Thần Chết, cầm
bút và tiếp tục vẽ.
Thấy Touo-lan-ka chẳng hề bận tâm, cứ bình thản vẽ, Thần Chết sốt ruột:
- Đi thôi, chúng ta phải nhanh lên một tí, ngươi không thể bắt Ngọc
hoàng chờ như thế!
- Đừng nổi nóng, họa sĩ bỉnh tĩnh trả lời, ít ra ta còn phải vẽ xong em gái
nhỏ này. Thà mi cứ đi trước đi, và nói với chủ mi hãy kiên tâm một chút.
Lưỡi Hái Lớn rất tò mò muốn biết Touo-lan-ka vẽ gì. Gã lại gần để xem.
Con tim băng giá của gã run rẩy.
Trong tranh, một thiếu nữ xinh đẹp như cười với gã! Chưa bao giờ gã
thấy một khuôn mặt đẹp đến thế.
Lặng lẽ, gã nhón chân chuồn khỏi chòi tre quay trở về trời.
- Thế nào, ngươi về một mình ư? Ngọc hoàng nghiêm giọng hỏi.
- Xin Ngọc hoàng xá tội cho thần, lần này không thể được, thần phải để
cho hắn vẽ xong một khuôn mặt.
- Đời ta chưa thấy chuyện thế này bao giờ! Ngọc hoàng gầm lên, mất hết
bình tĩnh. Đi, nhanh cấp tốc giải hắn lên đây cho ta! Đây là Luật Nhà trời.
Ta không thể để cho Luật Nhà trời bị một tên họa sĩ vi phạm!
Lưỡi Hái Lớn vậy là phải xuống mặt đất một lần nữa. Qua bãi trồng cọ,
gã trông thấy xa xa ánh lửa nhỏ leo lét nhấp nháy nơi cửa sổ chòi tre, đốm
sáng duy nhất trong đêm đen sâu thẳm. Gã mở cửa bất thình lình, nhưng
sững sờ lủi lại. Từ trong tranh, một khuôn mặt thiếu nữ xiết bao dịu dàng,
xiết bao trong sáng đang mỉm cười với gã! Một gương mặt, ngay trên Trời
cũng khó thấy.
“Lại vội vàng rồi”, họa sĩ làu bàu, vẫn đắm chìm với bức tranh. Nhưng
lần này Thần Chết không để bị gạt ra rìa, Touo-lan-ka đành vâng lời, thu
thập họa cụ, vài bức phác thảo, một cây nến thờ và đi theo Thần Chết.
Khi cả hai đến trước Ngọc hoàng, họa sĩ quỳ gối rạp mình đúng như một
kẻ phàm trần phải thế. Tay trái ông cầm cây nến cháy, tay phải những họa
cụ.
- Được lắm, được lắm, Ngọc hoàng gật đầu hào hiệp, ta biết dưới mặt đất
ngươi là một họa sĩ lừng danh, và ngươi không thể sống không có hội họa.
Nay, ngươi có thể tiếp tục vẽ trên Trời!
Touo-lan-ka cúi rạp mình, tạ ơn Ngọc hoàng ban cho ân huệ ấy. Thế
nhưng, ông không thể cầm được vài giọt nước mắt. Điều đó cũng dễ hiểu!
Ông phải xa rời xứ sở của mình, xa rời mặt đất, so với nơi áy không một
Trời nào có thể sánh bằng. Hơi buồn, ông thổi tắt ngọn nến trong tay. Thần
Chết dẫn ông đến gặp Thần Sống:
- Từ nay, chỗ của ngươi là ở đây: hãy làm ngay bây giờ việc ngươi phải
làm!
Thế là họa sĩ ở cận kề Thần Sống. Ông bày ra đất cạnh mình bút vẽ, viên
đá nhào mực, chiếc bình nước nhỏ, thỏi mực Tàu, và ông lại vẽ. Cứ mỗi lần
Thần Sống phải trao linh hồn cho một đứa trẻ sơ sinh, Touo-lan-ka tìm trong
các bức chân dung của ông một bức phù hợp hơn cả với con người tương lai
đó.
Thế nhưng, cũng phải thừa nhận rằng Touo-lan-ka thường hay ăn gian!
Ông không muốn xa rời những bức chân dung đẹp nhất: Ông giữ chúng cho
riêng mình. Các bà mẹ Tai dâng cho ông biết bao đò cúng lễ xa hoa mong
ông gán cho em bé của các bà khuôn mặt đẹp nhất đời, nhưng đều vô hiệu:
Những khuôn mặt đẹp nhất, ông giữ cho riêng mình, ở trên Trời kia.
Cô gái có hoa dẻ trắng
GẦN CON SÔNG LỚN TSANGPO, TRONG MỘT VÙNG đầy thú dữ
có một người thợ săn chỉ có một con trai độc nhất tên là Losang. vốn khéo
léo và dũng cảm, chàng được cha cho đi săn từ khi còn là một chú bé. Tròn
tuổi hai mươi, chú bé trở thành một chàng thanh niên nhanh nhẹn và hăng
như cọp núi, cử động mau lẹ như hươu, về tài bắn cung thì trong vòng nhiều
dặm không ai sánh bằng. Vì chàng mảnh dẻ như một cây tre, lại có cặp mắt
to, thẫm màu và u buồn, tất cả các cô gái trong vùng đều để ý tới chàng,
nhưng Losang không quan tâm đến một ai.
Một ngày nọ, chàng đang nằm dài bên bờ sông uể oải nhai một nhánh cỏ,
nhìn đám lau sậy rập rờn nhè nhẹ trong gió, bỗng thấy một con diệc trắng
bay lên khỏi mặt nước. Lập tức,chàng giương cây cung ngắm và
ph...ự...ư...t! mũi tên bay đi. Con diệc trắng kêu lên một tiếng não lòng và rơi
xuống giữa sông, dòng nước cuốn nó đi. Con chim biến mất trước khi chàng
trai trẻ kịp phản ứng. Losang nhìn rất lâu dòng nước đã cuốn con chim đi,
lòng buồn lạ lùng. Cùng lúc đó, trên bờ bên kia xuất hiện một thiếu nữ. Nàng
gài trên tóc một bông hoa dẻ trắng và cầm trong tay một chiếc xô làm bằng
vỏ cây bulô. Nàng cúi mình xuống sông múc nước đầy xô, mỉm cười với
chàng trai trẻ và cất...
Bản quyền tiếng Việt © Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam.
Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép hay phát
hành dưới bất kỳ hình thức hoặc phương tiện nào mà không có sự cho phép
trước bằng văn bản của đơn vị chủ quản.
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
65 Nguyễn Du - Hà Nội
Tel: 04 38222135 I Fax: 04 38222135
E-mail: nxbhoinhavan@hn.vnn.vn
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Bức tranh gấm
XƯA KIA, TRONG MỘT VÙNG CẰN CỖI DƯỚI CHÂN núi, có một
bà góa nghèo sống cùng ba người con trai. Người con cả là một tên vô tích
sự, người con thứ hai chẳng hơn gì, duy chỉ có người con út là thương người
và siêng năng, thường cố sức mình giúp mẹ. Bà mẹ dệt suốt ngày, dưới
những ngón tay khéo léo của bàn ở ra muôn bông hoa đẹp, vô số chim chóc
và đủ loại muông thú. Bà mang những tranh gấm ra chợ tỉnh gần đấy và đổi
lại đủ tiền nuôi các con cùng bản thân. Người con út thường vào rừng kiếm
củi, nhưng hai anh lớn thì lười biếng chỉ nằm ườn sưởi nắng chờ mẹ cho ăn.
Một hôm bà mẹ bán hết hàng sớm hơn thường lệ. Đang lang thang trong
chợ tìm người bán gạo rẻ, chợt bà chú ý đến một bức tranh lớn treo trong
một cửa hiệu. Bà đến gần đế xem kĩ hơn. Bức tranh th một ngọn núi giống
như ngọn núi sau làng bà, nhưng dưới chân núi, không phải những mái tranh
nghèo lụp xụp mà là những ngôi nhà nhỏ đẹp đẽ, sạch sẽ, quây quần. Ngôi
nhà đẹp nhất có nhiều tầng, sừng sững giữa một mảnh vườn có con suối lấp
lánh ánh bạc chảy qua, với một chiếc hồ nhỏ nơi đàn cá đỏ bơi lội tung tăng.
Trong sân gà vịt, gia cầm quanh quản kiếm ăn, những con cừu trắng gặm cỏ
trên đồi, những cánh đồng ngô vàng rực trải dài ngút tầm mắt. Bên trên bức
tranh trữ tình, tỏa sáng một vầng mặt trời đỏ rực.
Bị chinh phục bởi bức tranh đẹp, bà mẹ không thể rời mắt. Chẳng ki.p
nghĩ ngợi, bà dốc hết số tiền vừa bán gấm ra mua bức tranh. Trong túi chỉ
còn vài đồng, bà đong ít gạo mang về.
“Chỉ một lần”, bà tự nhủ, “chẳng phải gì ghê gớm. Lần sau, ta sẽ chuẩn
bị cho các con món gì đó tươm tất hơn.” Trên đường về, chốc chốc bà lại
dừng bước, giở cuộn tranh ra ngắm nghía. Sao mà những ngôi nhà sáng rỡ
đến thế, sao mà dòng suối lấp lánh đến thế, bà đếm xem có bao nhiêu gà, bao
nhiêu vịt, bà thán phục mảnh vườn rau tươi tốt, đến gần nhà, bà như ngửi
thấy mùi hương hoa lung linh trong vườn. Cảnh trong tranh khiến bà sung
sướng như chưa từng sung sướng thế trong đời.
về nhà, bà mẹ treo tranh ngoài cửa. Bà không thể rời mắt. Hai người con
lớn càu nhàu, chúng thấy thật lố bịch khi phí tiền mua một bức tranh, nhưng
người con út tuyên bố:
- Con chúc cho mẹ có được căn nhà như trong tranh, với một mảnh vườn
đẹp như thế. Nếu là mẹ, con sẽ dệt một bức tranh gấm theo mẫu này. Khi dệt
căn nhà, những bông hoa, dòng suối, đàn gà, mẹ sẽ có cảm tưởng có những
thứ đó thực. - Đừng làm mẹ kích động, người anh cả ngáp dài. Nếu mẹ dệt
chỉ vì ý thích thì lấy đâu ra tiền mà sống?
- Đúng thế, người anh thứ hai phụ họa, nếu mẹ muốn sống như một quý
phu nhân thì hãy chờ kiếp sau. Có thể sẽ sung sướng hơn hiện nay.
Nhưng ý của người con út khiến bà xiêu lòng.
- Đừng sợ mẹ làm khổ các con, bà dỗ dành. Mẹ sẽ dệt theo sở thích buổi
tối và sáng sớm. Mẹ đã nuôi nấng các con cho đến nay, mẹ sẽ tiếp tục nuôi
nấng các con. Dứt lời, bà đi mua những con chỉ đẹp nhất, và bắt tay vào dệt.
Suốt một năm dài bà mẹ ngồi bên khung cửi. Đêm nào bà cũng đốt một
ngọn đuốc, khói cay làm mắt bà đỏ hoe, nước mắt trào ra. Từng giọt nước
mắt trong như pha lê rơi xuống bức gấm bà đang dệt, bà hòa nhập chúng vào
bức tranh. Bằng cách ấy, bà mẹ dệt bằng nước mắt con suối nhỏ và mặt hồ
gợn sóng rập rờ
Năm thứ hai, đôi mắt bà mẹ tội nghiệp rát bỏng đến ứa máu, những giọt
nước mắt đỏ tươi rơi xuống bức gấm. Bà hòa nhập chúng vào tranh. Bằng
cách ấy, bà dệt nên những bông hoa đỏ và mặt trời màu đồng chiếu sáng trên
vòm trời.
Năm thứ ba, bức tranh gấm hoàn thành. Nó chứa đựng tất cả những gì có
trong bức tranh mẫu. Một vùng ngợp màu xanh dưới chân ngọn núi cao,
những căn nhà lấp lánh ánh bạc, những cánh đồng ngô vàng rực, những
mảnh vườn rau, cây ăn quả, những bụi rậm điểm tô, và nơi rìa làng, thay vì
căn nhà tồi tàn của bà mẹ là một tòa nhà to cao lừng lững, với những cột đỏ,
cửa vàng và mái lam. Phía sau nhà, những con cừu gặm cỏ trên đồi xanh,
cùng những con trâu, con bò, gà con vàng ươm, vịt con nô đùa trên cỏ,
những chú chim rạch không trung sải cánh bay nhanh.
Lớp cảnh trước của bức tranh là một mảnh vườn cây cối xum xuê, hoa
nở tưng bừng, chính giữa là một hồ nhỏ với đàn cá đỏ, từ đó phun ra một
dòng suối lấp lánh ánh bạc chảy qua cánh đồng lúa. Phía sau làng là những
cánh đồng ngô vàng rực, trải dài ngút tầm mắt. Tít trên cao, mặt trời màu
đồng lấp lánh trên nền trời xanh.
Bà mẹ giụi cặp mắt đỏ hoe, nở một nụ cười mãn nguyện. - Lại đây
xem, các con, đẹp xiết bao!
Ba người con sán lại, trầm trồ thán phục.
- Nếu đem bán thì được bao nhiêu tiền vàng nhỉ? Người con cả hỏi.
- Với một món hàng thế này, có thể được món tiền khá đấy, người con
thứ hai phụ họa. Nhưng người con út tuyên bố:
- Mẹ chúng ta đã xây cho chúng ta một ngôi nhà bằng gấm. Chúng ta hãy
chiêm ngưỡng và sống ở đó bằng tâm tưởng.
- Mẹ dệt bức tranh theo sở thích.
Mẹ sẽ không bán cho ai cả. Nhưng ở đây, trong bóng tối, mẹ con ta
không nhìn rõ những gì trên đó. Hãy mang ra ánh sáng.
Bà mẹ treo bức tranh gấm của mình ra ngoài. Tất cả màu sắc đều rực rỡ.
Chỉ dưới ánh sáng ngày rất tỏ, người ta mới thấy bức tranh đẹp đến thế nào.
Xóm giềng xúm lại ngắm nghía, ai nấy trầm trồ khen khiến bà mẹ cười sung
sướng.
Thốt nhiên bà cảm thấy một làn gió mát mơn man trên má mình. Bức
gấm rung rinh. Một cơn gió mạnh lay động nó như đập thảm và cuối cùng
giật tung nó khỏi cánh cửa. Thoáng sau, bức tranh đã bay rất xa trong không
trung.
Bà mẹ kêu lên và ngất đi. Xóm giềng chạy tản ra khắp nơi tìm bức tranh,
những người con cũng tìm khắp xung quanh, nhưng không ai tìm được.
Sau hôm mát tranh, bà mẹ bắt đầu lang thang như một linh hồn chịu tội.
Người con út cố hết sức phục hồi sức khỏe cho mẹ, nấu xúp gừng cho mẹ ăn,
nhưng bà vẫn suy sụp đi trông thấy.
Một thời gian sau, bà gọi người con cả đến, bảo:
- Con ơi, nếu con muốn mẹ còn sống thì hãy đi tìm bức tranh gấm mang
về đây. Không có nó, khác nào mẹ mất nửa cuộc đời.
Người con cả xỏ dép và đi về phía Đông. Sau một tháng anh ta đến một
hẻm núi, nơi đó có một căn lều đá. Trước lều có một con ngựa vươn cổ lên
bụi dâu tây. “Tại sao con ngựa không ăn quả dâu tây?” người con cả tự hỏi.
“Tại sao nó đứng đấy, vươn cổ, há mõm?” Lại gần hơn, anh ta nhận ra con
ngựa là ngựa đá. Người con cả hết sức ngạc nhiên. Anh ta đứng thần người,
sửng sốt ngắm nhìn con ngựa đá và căn lều đá, bỗng một bà già tươi cười
xuất hiện trên ngưỡng cửa:
- Con tìm gì ở đây, con trai của ta? Bà niềm nở hỏi.
- Con tìm một bức tranh gấm do mẹ con dệt, người con cả đáp. Bức tranh
thể hiện cảnh một ngôi nhà, một dòng suối, một mảnh vườn, đàn gia cầm,
mặt trời và những bông hoa. Vì bức tranh ấy, chúng con đã ăn không ngon,
ngủ không yên suốt ba năm ròng, mẹ con vừa dệt xong thì gió cuốn đi mất,
có Trời biết là đi đâu. Mẹ sai con đi tìm. Tình cờ bà có thấy nó ở đâu không?
- Có, ta có biết, bà già nhún vai nói. Các nàng tiên Núi Mặt trời đã mượn
bức tranh ấy đấy! Các nàng muốn dùng nó làm mẫu để mỗi nàng thêu một
bức gấm đẹp.
- Con hài lòng được biết phải đi đâu mà tìm, người con cả thở phào nhẹ
nhõm. Bà có thế chỉ đường cho con đến Núi Mặt trời không? Con sẽ đến
thẳng nơi ấy, xong mới yên tâm được.
- Nói thì dễ, làm thì khó đấy, bà già cười khe khẽ. Muốn đến Núi Mặt
trời, con không có cách nào khác là cưỡi con ngựa này.
- Nhưng con ngựa này bằng đá! Người con cả nhận xét.
- Không quan trọng, bà già nói. Con ngựa sẽ hồi sinh, nếu con trồng vào
lợi nó răng của con để nó có thể ăn được mười quả dâu. Nếu con muốn, ta có
thể đánh rụng răng con bằng hòn đá này.
Người con cả sợ hãi nhìn bà già. Đầu gối anh ta run lẩy bảy.
- Cái đó còn chưa thấm vào đâu, bà già tiếp tục, không để ý đến vẻ sợ hãi
của anh chàng. Trên con ngựa này, con phải băng qua một núi lửa, phải vượt
qua một biển băng, thoát khỏi biển băng con sẽ thấy Núi Mặt Trời và các
nàng tiên. Nhưng nếu dọc đường con chỉ thở dài một tiếng thì hoặc lửa sẽ
đốt con thành tro bụi, hoặc những tảng băng sẽ tiêu diệt con, hoặc sóng biển
sẽ nhận chìm con.
Người con cả vội lùi lại một hai bước, nhìn con đường mình vừa đi tới.
Bà già mỉm cười:
- Nếu trái tim con không mách bảo thì đừng khiên cưỡng! Tốt hơn hãy
trở về nhà. Ta sẽ cho con một hộp nhỏ đầy tiền vàng để đi đường.
- Bà sẽ cho con tiền vàng, không phải đổi gì sao? Người con cả sững sờ
hỏi.
- Phải, không đổi gì cả. Hoặc nếu muốn, để con có cái ăn khi đói, bà già
lạ lùng trả lời.
- Chúa tôi, nếu quả vậy, con ưng quay về nhà... Người con cả cầm lấy
tiền và biến mất bằng con đường đã đưa anh ta đến.
Đến ngã tư, anh ta tự nhủ: “Số vàng này, cho một người thì đủ,nhưng
nếu chia tư thì ít quá. Ta ưng ra thành phố hơn là về nhà. Ta sẽ sống như một
lãnh chúa!” Thế là anh ta ra thành phố.
Thấy lâu quá mà con cả không trở lại, bà mẹ bảo người con thứ:
- Anh con chu du, chẳng biết đi đâu? Có lẽ nó đã quên chúng ta rồi. Con
trai, con hãy đi tìm cho mẹ bức tranh gấm.
Người con thứ xỏ dép và lên đường. Anh ta đi một ngày, một tuần,một
tháng và đến túp lều đá. Anh ta trông thấy con ngựa đá vươn cổ lên những
quả dâu. Một bà già hiện ra trên ngưỡng cửa, hỏi:
- Trận gió lành nào đưa con đến nơi này, con trai của ta?
- Con tìm bức tranh gấm mẹ con dệt. Gió đã cuốn đi.
- Anh cả con đã qua đây, bà già thở dài, nhưng nó sợ đi đoạt lại bức gấm
phải qua lửa, qua băng, phải cưỡi trên con ngựa nà
- Nhưng đây là con ngựa đá?
- Nếu con chịu nhổ răng bằng một hòn đá, để ta có thể trồng răng của con
cho con ngựa, ngay khi con ngựa ăn được mười quả dâu, nó sẽ sống lại và
mang con đến bên các nàng tiên của Núi Mặt Trời. Các nàng sẽ trả con bức
tranh.
- Chỉ còn thiếu nước ấy nữa thôi, con sẽ bị nhổ răng! Người con thứ
hoảng sợ. Con ưng quay về nhà hơn.
- Nếu vậy, ta sẽ cho con một hộp tiền vàng. Anh con cũng đã được ngần
ấy.
“Chính vì lẽ đó mà anh trai ta không trở về nhà,” người con thứ nghĩ
bụng. “Anh ấy làm thế là đúng. Anh ấy hưởng tiền một mình.” Người con
thứ cầm hộp tiền vàng bà già cho, lễ phép cảm ơn, rồi ba chân bốn cẳng
chuồn mất. Đến ngã tư đường, anh ta không do dự một giây, đi thẳng ra
thành phố. “Giờ đây, ta sẽ tận hưởng thời vận của ta!” anh ta khấp khởi
mừng thầm.
“Tại sao ta phải chia sẻ cho người khác?”
Một tháng nữa lại trôi qua, bà mẹ gọi con út đến và bảo:
- Con ơi, mẹ giờ yếu như một con ruồi. Nếu không tìm lại được bức gấm,
mẹ sẽ không cầm cự được bao lâu nữa. Hai anh con đi rong chơi, chẳng biết
ở nơi nào? Chắc chúng không còn nghĩ gì đến chúng ta. Con vẫn là đứa con
mẹ tin cậy nhất. Con hãy đi tìm bức gấm cho mẹ.
Người con út xỏ dép và lên đường. Chàng đến hẻm núi, nơi phía trước
căn lều đá có con ngựa đá đang vươn cổ lên chùm dâu, và trên ngưỡng cửa là
một bà già nhỏ bé như chờ chàng. Bà chào đón chàng và nói:
- Đường đến bức tranh gấm rất gian nan. Hai anh con đã ưng nhận của ta
mỗi người một hộp tiền vàng, đi ra thành phố rồi.
- Con không sợ gì hết, con không cần vàng. Tiền vàng không trả lại cho
mẹ con sức khỏe. Con phải làm gì đây để lấy lại bức tranh gấm cho mẹ
mình?
Bà già nói cho người con út biết đường đi phải qua lửa và đá băng. Bà
cũng nói muốn làm con ngựa sống lại phải cho nó răng của chàng. Bà chưa
dứt lời chàng trai đã lấy một hòn đá đập gẫy răng mình, cấy vào hàm ngựa.
Con ngựa sống lại, ăn mười quả dâu. chàng trai nhảy lên mình ngựa phi
nhanh như gió.
- Đừng quên con không được thở dài một tiếng, ngay cả khi lửa liếm vào
con và băng làm sầy da con, nếu thở dài con sẽ chết! Bà già nhỏ bé gọi với
theo.
Mệt đứt hơi, chàng trai phi ngựa càng lúc càng sâu vào vùng núi đá, đến
một nơi lửa phun ra từ lòng đất. Chàng trai thúc ngựa, vượt qua bức tường
lửa. Lửa thiêu đốt chàng, làm chàng ngạt thở, nhưng chàng không thở dài
một tiếng nào. Khi chàng tưởng lửa sắp thiêu chết mình thì con ngựa nhảy
một bước dài, chưa ki.p hiểu rõ sự tình đã thấy cả người cả ngựa trên một
con đường mòn râm mát giữa các tảng đá. Người con út lau mồ hôi trán, hít
đầy lồng ngực không khí mát lành, rồi thúc ngựa, tiếp tục cuộc hành trình.
Thày trò đi như thế rất lâu, lâu lắm, đến khi chàng trai cảm thấy một luồng
khí lạnh. Xa xa nghe có tiếng ầm ầm. Chàng trai lại thúc ngựa. Thầy trò phi
như gió, chợt con đường kẹt giữa những mỏm đá nhô ra. Con ngựa dừng lại.
Chàng trai rét run, đưa mắt nhìn xung quanh. Thầy trò đang đứng trước
mênh mông biển sóng. Nhìn đến ngút tầm mắt, phía trước họ một biển băng
vô tận, với những núi băng trôi khổng lồ đầy đe dọa, va vào nhau răng rắc.
Xa tít tắp phía bên kia biển băng, có thể hình dung một ngọn núi xanh chan
hòa ánh nắng mặt trời.
“Núi Mặt Trời!” người con út reo lên. “Mau, ngựa tốt của ta, phải gấp
lên, chúng ta gần đến nơi rồi!” Con ngựa nhảy không do dự xuống làn sóng
băng. Khối băng chuyến động đốt cháy và cào xước da chàng kị sĩ, những
con sóng xô đẩy chàng, đe dọa đánh ngã chàng. Nhưng chàng trai mím chặt
môi, không một tiếng thở dài. Khi chàng tưởng mình sắp chìm ngập trong
băng thì con ngựa vừa tới bờ. Mặt trời ấm áp tức thì sấy khô quần áo chàng,
làm liền sẹo các vết thương của chàng và trước khi kịp hiểu ra sao, chàng đã
ở trên đỉnh núi. Trước mặt chàng lấp lánh một tòa lâu đài pha lê. Tiếng cười,
tiếng hát của các thiếu nữ vẳng đến từ ngoài vườn.
Chàng trai qua cổng sân chầu, đoạn nhảy xuống ngựa. Chàng thấy trước
mắt mình một đám các thiếu nữ vô cùng xinh đẹp đang dệt gấm. Bức tranh
của mẹ chàng đặt ở giữa. Trông thấy chàng trai, các thiếu nữ bỏ khung cửi,
xúm quanh cười đùa. Thiếu nữ trẻ nhất, mặc áo đỏ sẫm, chàng thấy đặc biệt
dễ thương.
Giữa lúc đó, một phu nhân rất đẹp tiến lại gần chàng. Bà mặc một chiếc
áo óng ánh như phản chiếu của muôn tia nắng mặt trời trên biển. Mái tóc dài
của bà được giữ bằng một chiếc lược vàng.
- Ta là Chúa tiên, bà nói. Chưa ai từng đến đây. Tại sao con thực hiện
chuyến đi nguy hiểm này?
- Con đến tìm bức tranh gấm của mẹ con. Gió đã mang nó đến tận lâu đài
của bà, và mẹ c đã ngã bệnh.
- Chẳng phải ngẫu nhiên gió cuốn bức tranh gấm của mẹ con đến đây,
chính chúng ta đã ra lệnh cho gió. Chúng ta muốn dùng bức gấm ấy làm mẫu
dệt cho mỗi chúng ta một bức tranh đẹp. Nếu con cho chúng ta đêm nay nữa,
ngày mai con có thể mang bức gấm đi. Và trong lúc chờ đợi, con là khách
của chúng ta, Chúa tiên mỉm cười nói.
Chàng trai sống trong một giấc mơ. Các nàng tiên xúm quanh chàng cười
đùa. Các nàng cho chàng nếm rượu tiên và thức ăn nơi tiên giới, như các
thánh thần được thế. Sau đó, các nàng nhanh chóng bắt tay vào công việc.
Các nàng dệt đến chiều tối. Khi hoàng hôn buông xuống, các nàng treo trên
vòm trời một viên ngọc lấp lánh, chiếu sáng trong đêm, và các nàng lại dệt
đến nửa đêm mới đi ngủ. Chàng trai kiệt sức vì bấy nhiêu cảm xúc, lăn ra
ngủ li bì. Riêng nàng tiên trẻ nhất, nàng tiên chàng ưng ngay từ phút đầu,
vẫn thức. Nàng ngắm nhìn bức tranh của bà mẹ, rồi bức tranh của mình, và
thở dài. Không nàng tiên nào dệt được bức tranh đẹp như bức tranh của bà.
Không dòng suối nào lấp lánh bằng dòng suối dệt bằng nước mắt của bà,
không mặt trời nào chiếu tỏa bằng mặt trời thấm máu của bà. Nàng tiên trẻ
nhìn chàng trai đang ngủ, và nảy ra một ý. Nàng lấy một sợi chỉ lụa, thêu
trên bức tranh của bà mẹ một nàng tiên nhỏ mặc áo đỏ sẫm, đứng bên bờ hồ
nhìn đàn cá đỏ.
Chàng trai trẻ thức giấc lúc nửa đêm. Gian phòng trống vắng. Giữa
phòng chỉ có duy nhất bức tranh của mẹ chàng. Chàng trai chiêm ngưỡng
bức tranh giây lát, rồi tự nhủ: “Tại sao phải đợi đến sáng mai? Mẹ ta đang
ốm, và tình trạng của mẹ xấu đi từng ngày.” Chàng cuộn bức gấm luồn vào
trong áo choàng, nhảy lên ngựa và trở lại con đường băng lửa. Sóng biển
tuyệt vọng quăng về phía chàng những khối băng to nhất, núi lửa thè những
lưỡi lửa chực nuốt chửng chàng. Chàng trai trẻ không hề thở dài và, trước
khi kịp hiểu rõ sự tình, đã thấy mình đứng trước túp lều đá. Bà già bé nhỏ
tươi cười chờ chàng trước ngưỡng cửa:
- Ta sung sướng thấy con trở về, con trai của ta. Con là một chàng trai tốt
bụng và dũng cảm. Con đã đạt được điều con muốn. Ta sẽ trả lại răng cho
con. Bà lấy răng trên hàm ngựa trồng lại vào hàm răng của chàng trai. Lập
tức, con ngựa hóa đá.
- Con hãy cầm lấy, đây là đôi dép bằng da hươu, bà già tốt bụng bảo
chàng, xỏ đôi dép này vào, con sẽ nhanh chóng về tới nhà.
Chàng trai nồng nhiệt cảm ơn bà già nhân hậu đã tận tình giúp đỡ, đoạn
xỏ đôi dép bằng da hươu và, chẳng biết bằng cách nào, chàng đã đứng trước
căn nhà nhỏ thân thuộc. Trông thấy chàng, một bà hàng xóm chạy ra. Bà rầu
rĩ nói: Thật tốt là cháu đã về. Ai biết mẹ cháu sẽ ra sao. Bà không ra
khỏi nhà nữa, mắt sắp lòa rồi. Bác không biết...
Chàng trai chạy bổ vào nhà và kêu to: “Mẹ ơi, nhìn này, nhìn này!”
Chàng lấy bức gấm trong áo giở ra. Gian phòng bừng sáng.
Biết con trai đã mang về cho mình bức tranh gấm, bà mẹ reo lên vui
mừng. Lập tức bà khỏi bệnh. Bà xuống giường, ngạc nhiên thấy sức khỏe
của mình phục hồi nhanh chóng.
Bà nhìn bức tranh, đột nhiên bà thấy nó nhiều lần đẹp hơn, bà bảo con
trai:
- Con hãy mang nó ra ngoài, để mọi người có thể nhìn nó rõ hơn.
Người con út mang bức tranh ra ngoài ánh sáng và giở. Màu sắc sáng
ngời ngời. Thình lỉnh, một trận gió nổi lên và bức tranh trải ra xa, xa hơn
nữa, cuối cùng trùm lên toàn bộ cảnh vật xung quanh. Bà mẹ bước ra từ một
ngôi nhà tầng đẹp đẽ. Bà nhìn quanh, mắt đẫm lệ hạnh phúc. Trải ngút tầm
mắt, những cánh đồng ngô vàng rực đến tận chân núi, những đàn gia súc
nhởn nhơ gặm cỏ, đám mây gà con vàng ươm tung tăng giữa bầy vịt con,
một mảnh vườn đẹp có dòng suối chảy qua, và trong vườn muôn bông hoa
đẹp nhất nở tưng bừng. Cảnh vật thiên nhiên y như trong bức tranh. Từ
những căn nhà nhỏ lấp lánh ánh bạc, xóm giềng chạy ra, choáng ngợp,
không thể tin vào điều kỳ diệu này.
Người con út nắm tay mẹ mình dắt ra vườn. Hai mẹ con bước chầm
chậm đến bên bờ hồ nhỏ, không thể tin nổi trước bấy nhiêu điều kỳ ảo. Đột
nhiên, người con sững sờ dừng bước, tim đập dồn dập. Bên hồ là nàng tiên
nhỏ xinh đẹp áo đỏ sẫm, đang mỉm cười với chàng.
- Nàng từ đâu đến? Chàng trai hỏi. Nàng tiên cất tiếng cười trong veo,
đoạn chớp chớp mắt thỏ thẻ.
- Em thêu mình trên bức tranh của mẹ chàng và chàng đã mang em theo.
Vì bức tranh sống dậy nên em ở đây.
Bà mẹ nhìn nàng, hết sức sung sướng.
- Bây giờ, chúng ta đã có một ngôi nhà lớn, chỉ thiếu một cô con gái nữa
thôi.
Nàng tiên nhìn chàng trai trẻ đang tiến lại phía mình.
- Nàng có thuận tình láy ta không? Chàng khẽ hỏi. Nàng tiên gật đầu tỏ ý
ưng thuận.
Một bữa tiệc lớn được tổ chức mừng hôn lễ. Ngoài xóm giềng, bà mẹ
mời tất cả hành khất trong . Hai người anh lớn cũng nghe phong thanh. Từ
lâu họ đã tiêu xài hết những đồng tiền vàng, hoặc do thói quen được người
khác nuôi, họ trở thành ăn mày. về đến căn nhà xưa, thấy cảnh vật đổi thay,
họ xấu hổ vì quần áo rách rưới, không dám vào. Họ bỏ đi xa, thế rồi mất tăm
trong thế giới rộng lớn.
Người con trai út, cùng cô vợ tiên và bà mẹ, sống hạnh phúc trọn đời
trong một miền trù phú dưới mặt trời ấm áp.
Thầy tu và anh thợ mộc
NGÀY XỬA NGÀY XƯA, XƯA ĐẾN NỖI KHÔNG AI CÒN nhớ nữa,
tại một vương quốc nọ có một anh thợ mộc và một lão thầy tu.
Lão thầy tu là một kẻ độc ác và hám tiền. Một ngày đẹp trời nọ, lão ta tỉ
tê bảo anh thợ mộc:
- Anh hãy xây cho ta một ngôi nhà, để thưởng công, ta sẽ cầu thần linh
ban cho anh hạnh phúc.
- Những lời cầu nguyện của ông, tôi chả thiết! Anh thợ mộc cộc lốc đáp
lời. Hạnh phúc và vận may của tôi là do đôi bàn tay và chiếc rìu này mang
lại.
“Mi chẳng mất gì để mà chờ đợi”, thầy tu hậm hực nghĩ bụng, “mi sẽ
phải trả giá vì thói hỗn xược của mình!” Ngày đêm lão ta nghĩ cách trả thù
anh thợ mộc. Sau cùng lão ta cũng tìm ra. Lão ta tâu với nhà vua:
- Tâu hoàng thượng, thần xin được mạn phép tâu rằng, hôm qua, thần đã
ở trên trời. Thần đã gặp ai? Chính là nhà vua quá cố, phụ hoàng của hoàng
thượng. Mọi sự đều rất tốt đẹp, trừ việc Người nói với thần Người muốn cho
xây một ngôi đền, nhưng như hoàng thượng đã rõ, trên trời không có nhiều
thợ mộc. Vì thế Người khẩn thiết yêu cầu hoàng thượng gửi cho Người anh
thợ mộc của hoàng cung, vì anh là một thợ mộc tài hoa.
- Tại sao không, nhà vua đồng ý ngay lập tức. Nhưng làm thế nào gửi
anh thợ mộc lên cho Người bây giờ?
- Xin hoàng thượng đừng lo! Các thầy tu chúng thần ít nhiều có kinh
nghiệm trong những chuyện thế này, thầy tu trình bày kế hoạch của lão ta
với nhà vua. Thần sẽ làm một cái lều gỗ nhốt anh thợ mộc vào trong, xếp
quanh lều một đống củi lớn rồi châm lửa. Khi lều bén lửa, một làn khói trắng
sẽ bốc lên trời. Trên làn khói ấy, như cưỡi trên mình ngựa, anh thợ mộc sẽ
lên hầu đức vua quá cố.
Nhà vua chấp thuận và sai báo cho anh thợ mộc biết.
- Tôi có thể làm gì được, khốn khổ thân tôi, anh thợ mộc than thở với vợ
khi trở về nhà. Lão thầy tu muốn tôi chết.
- Mình có thể làm gì ư? Có khó gì! Chị vợ bảo chồng. Ngay tối nay,
chúng mình sẽ đào một đường hầm từ nhà chúng mình đến cái lều gỗ người
ta đang dựng. Ngày mai, mình sẽ nhanh chóng trở về theo đường hầm ấy!
Ngày hôm sau, người ta đến tìm anh thợ mộc, nhốt anh vào trong lều,
xếp củi xung quanh và châm lửa. Khi khói trắng bắt đầu bốc lên, thầy tu la
toáng:
- Hãy nhìn kìa! Chính anh ta đấy, Người trông thấy anh ta phải không?
Người có thấy anh ta vội vã lên trời, trên con ngựa bạch không?
Chẳng ai thấy gì ngoài khói. Nhưng mọi người đều làm như trông thấy
anh thợ mộc trên con ngựa của anh.
Trong khi đó, anh thợ mộc về nhà theo con đường hầm, nấp kĩ sau lò
sưởi, suốt một tháng không thò mũi ra ngoài, suy nghĩ cách trả thù thầy tu.
Sau một tháng. Anh ra trình diện đàng hoàng trong cung vua. Ai nấy nhìn
anh tròn mắt, nhất là lão thầy tu.
- Ngươi đã về đấy à? Nhà vua ngạc nhiên hỏi.
- Như hoàng thượng đã thấy, thần từ trên trời về thẳng đây, anh thợ mộc
trả lời và cung kính cúi đầu. Xây ngôi đền thật là vất vả! Tâu hoàng thượng,
trên trời, họ làm ăn còn lạc hậu lắm.
Nhưng thần đã xây dựng xong cho đức vua quá cố một ngôi đền. Người
rất hài lòng. Hiện giờ, Người chỉ còn một yêu cầu, thần xin tâu lên hoàng
thượng. Trong ngôi đền mới, cố nhiên phải có một thầy tu. Hoàng thượng
biết rõ hơn ai hết: Một ngôi đền mà không có thầy tu là điều không sao
tưởng nối. Thêm nữa, đức vua quá cố không chấp nhận một thầy tu bất kỳ
nào trong ngôi đền đẹp đẽ trên trời của Người. Phải là một thầy tu vĩ đại!
Đức vua quá cố của Người muốn có thầy tu của hoàng cung, bởi người ta đã
đồn lên tận trời vinh quang và trí tuệ thông thái của ông.
- Chắc chắn ta có thể dâng lên Người thầy tu của ta, nhưng làm thế nào
gửi ông ta lên trên ấy?
- Như cách của thần, tâu hoàng thượng, như cách của thần! Anh thợ mộc
trả lời, vờ như ngây thơ. Đó là cách nhanh nhất.
Thầy tu sợ tái xanh tái tử, nhưng không thể nào thoái thác. Lão ta chặc
lưỡi: “Dầu sao, nếu gã thợ mộc có thể từ trời về được, tại sao ta lại không?”
Ngây thơ, lão để mặc mọi người nhốt mình vào lều và nối lửa.
Ngọn lửa bùng lên cao, cao mãi, một cột khói đen nặng bốc lên, mang
theo lên trời linh hồn đen tối của lão thầy tu độc ác.
Họa sĩ Touo-lan-ka
RẤT XA Ở MIỀN NAM TRUNG QUỐC, NƠI NHỮNG người Tai sinh
sống, có một thôn làng vây quanh bởi những bãi trồng cọ. Không xa ngoài
rìa làng, bên bờ một con sông nước trong vắt, sừng sững một cái chòi cũ nát,
bằng tre ken lại với nhau. Đó là nơi rất xa xưa họa sĩ Touo-lan-ka từng sống,
ông không phải là một họa sĩ bình thường, khó tìm thấy một người giống
ông. Ông say mê hội họa như bị “ma ám”, ông vẽ trên bất cứ thứ gì vô tình
rơi vào tay: trên giấy, trên lụa hay trên gỗ. Ông hiếm khi ra ngoài, chỉ lúc
này hay lúc khác ghé qua đền thờ, hoặc vào làng, nhưng đừng tưởng để cầu
nguyện hoặc dâng lễ vật cúng các vị thần. Không! Điều này không thuộc bản
tính của ông. Ông ngồi đó, im lặng trong một góc, quan sát những người vào
ra,ghi khắc những nét riêng biệt của họ vào tâm trí. về nhà, ông giam mình
trong chòi, vớ lấy bút và bắt đầu vẽ, vẽ và vẽ. Dầu cho bên ngoài mặt trời có
chói chang, mặt trăng lạnh có tỏa sáng, ông cũng không hay biết. Mỗi ngày
ông vẽ bảy gương mặt, sau một tuần thành bảy lần bảy bốn mươi chín gương
mặt, treo trên vách chòi tre. Cho tới một đêm - đó là một đêm dông bão, gió
điên cuồng thổi cây cối đổ rạp, sấm rền vang - ông vừa vẽ xong khuôn mặt
thứ bốn mươi chín của tuần thì có ai đó đập cửa.
ó thể là ai đây?” Họa sĩ càu nhàu. “Kẻ nào ma dẫn lối quỷ đưa đường đến
đây vào lúc gió bão, đến con cú cũng phải nằm im thế này?”
- Ta là Thần Chết. Ta cai quản linh hồn những người chết ở vùng này.
Đêm nay Ngọc hoàng sai ta đến bắt ngươi.
“Sao Thiên lôi không đánh chết mi, tên đáng nguyền rủa!” Touo-lan-ka
nghĩ, cảm thấy trong lòng một nỗi buồn sâu xa. Thu hết can đảm, ông ra mở
cửa. Trên ngưỡng cửa, sừng sững một bóng đen, tối tăm hơn đêm tối.
- Vào đi, Touo-lan-ka bảo, nhưng mi phải đợi một lát, ta còn phải vẽ
xong bức này. Rồi như chẳng có gì xảy ra, ông quay lưng lại Thần Chết, cầm
bút và tiếp tục vẽ.
Thấy Touo-lan-ka chẳng hề bận tâm, cứ bình thản vẽ, Thần Chết sốt ruột:
- Đi thôi, chúng ta phải nhanh lên một tí, ngươi không thể bắt Ngọc
hoàng chờ như thế!
- Đừng nổi nóng, họa sĩ bỉnh tĩnh trả lời, ít ra ta còn phải vẽ xong em gái
nhỏ này. Thà mi cứ đi trước đi, và nói với chủ mi hãy kiên tâm một chút.
Lưỡi Hái Lớn rất tò mò muốn biết Touo-lan-ka vẽ gì. Gã lại gần để xem.
Con tim băng giá của gã run rẩy.
Trong tranh, một thiếu nữ xinh đẹp như cười với gã! Chưa bao giờ gã
thấy một khuôn mặt đẹp đến thế.
Lặng lẽ, gã nhón chân chuồn khỏi chòi tre quay trở về trời.
- Thế nào, ngươi về một mình ư? Ngọc hoàng nghiêm giọng hỏi.
- Xin Ngọc hoàng xá tội cho thần, lần này không thể được, thần phải để
cho hắn vẽ xong một khuôn mặt.
- Đời ta chưa thấy chuyện thế này bao giờ! Ngọc hoàng gầm lên, mất hết
bình tĩnh. Đi, nhanh cấp tốc giải hắn lên đây cho ta! Đây là Luật Nhà trời.
Ta không thể để cho Luật Nhà trời bị một tên họa sĩ vi phạm!
Lưỡi Hái Lớn vậy là phải xuống mặt đất một lần nữa. Qua bãi trồng cọ,
gã trông thấy xa xa ánh lửa nhỏ leo lét nhấp nháy nơi cửa sổ chòi tre, đốm
sáng duy nhất trong đêm đen sâu thẳm. Gã mở cửa bất thình lình, nhưng
sững sờ lủi lại. Từ trong tranh, một khuôn mặt thiếu nữ xiết bao dịu dàng,
xiết bao trong sáng đang mỉm cười với gã! Một gương mặt, ngay trên Trời
cũng khó thấy.
“Lại vội vàng rồi”, họa sĩ làu bàu, vẫn đắm chìm với bức tranh. Nhưng
lần này Thần Chết không để bị gạt ra rìa, Touo-lan-ka đành vâng lời, thu
thập họa cụ, vài bức phác thảo, một cây nến thờ và đi theo Thần Chết.
Khi cả hai đến trước Ngọc hoàng, họa sĩ quỳ gối rạp mình đúng như một
kẻ phàm trần phải thế. Tay trái ông cầm cây nến cháy, tay phải những họa
cụ.
- Được lắm, được lắm, Ngọc hoàng gật đầu hào hiệp, ta biết dưới mặt đất
ngươi là một họa sĩ lừng danh, và ngươi không thể sống không có hội họa.
Nay, ngươi có thể tiếp tục vẽ trên Trời!
Touo-lan-ka cúi rạp mình, tạ ơn Ngọc hoàng ban cho ân huệ ấy. Thế
nhưng, ông không thể cầm được vài giọt nước mắt. Điều đó cũng dễ hiểu!
Ông phải xa rời xứ sở của mình, xa rời mặt đất, so với nơi áy không một
Trời nào có thể sánh bằng. Hơi buồn, ông thổi tắt ngọn nến trong tay. Thần
Chết dẫn ông đến gặp Thần Sống:
- Từ nay, chỗ của ngươi là ở đây: hãy làm ngay bây giờ việc ngươi phải
làm!
Thế là họa sĩ ở cận kề Thần Sống. Ông bày ra đất cạnh mình bút vẽ, viên
đá nhào mực, chiếc bình nước nhỏ, thỏi mực Tàu, và ông lại vẽ. Cứ mỗi lần
Thần Sống phải trao linh hồn cho một đứa trẻ sơ sinh, Touo-lan-ka tìm trong
các bức chân dung của ông một bức phù hợp hơn cả với con người tương lai
đó.
Thế nhưng, cũng phải thừa nhận rằng Touo-lan-ka thường hay ăn gian!
Ông không muốn xa rời những bức chân dung đẹp nhất: Ông giữ chúng cho
riêng mình. Các bà mẹ Tai dâng cho ông biết bao đò cúng lễ xa hoa mong
ông gán cho em bé của các bà khuôn mặt đẹp nhất đời, nhưng đều vô hiệu:
Những khuôn mặt đẹp nhất, ông giữ cho riêng mình, ở trên Trời kia.
Cô gái có hoa dẻ trắng
GẦN CON SÔNG LỚN TSANGPO, TRONG MỘT VÙNG đầy thú dữ
có một người thợ săn chỉ có một con trai độc nhất tên là Losang. vốn khéo
léo và dũng cảm, chàng được cha cho đi săn từ khi còn là một chú bé. Tròn
tuổi hai mươi, chú bé trở thành một chàng thanh niên nhanh nhẹn và hăng
như cọp núi, cử động mau lẹ như hươu, về tài bắn cung thì trong vòng nhiều
dặm không ai sánh bằng. Vì chàng mảnh dẻ như một cây tre, lại có cặp mắt
to, thẫm màu và u buồn, tất cả các cô gái trong vùng đều để ý tới chàng,
nhưng Losang không quan tâm đến một ai.
Một ngày nọ, chàng đang nằm dài bên bờ sông uể oải nhai một nhánh cỏ,
nhìn đám lau sậy rập rờn nhè nhẹ trong gió, bỗng thấy một con diệc trắng
bay lên khỏi mặt nước. Lập tức,chàng giương cây cung ngắm và
ph...ự...ư...t! mũi tên bay đi. Con diệc trắng kêu lên một tiếng não lòng và rơi
xuống giữa sông, dòng nước cuốn nó đi. Con chim biến mất trước khi chàng
trai trẻ kịp phản ứng. Losang nhìn rất lâu dòng nước đã cuốn con chim đi,
lòng buồn lạ lùng. Cùng lúc đó, trên bờ bên kia xuất hiện một thiếu nữ. Nàng
gài trên tóc một bông hoa dẻ trắng và cầm trong tay một chiếc xô làm bằng
vỏ cây bulô. Nàng cúi mình xuống sông múc nước đầy xô, mỉm cười với
chàng trai trẻ và cất...
 





