Ý nghiã chiến thắng 30/4
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Thiên Nhiên Đất Nước Ta - Kì Vĩ Núi Đèo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:20' 09-03-2024
Dung lượng: 20.8 MB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:20' 09-03-2024
Dung lượng: 20.8 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
NGUYỄN NHƯMAI, NGUYỄN HUYTHẤNG
NGUYỄN QUỐC TÍN
THIÊN NHIÊN ĐẤT N ư ớ c TA
KÌ VĨ NÚI ĐÈO
NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỔNG
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Như Mai
Kì vĩ núi đèo / Nguyên Như Mai, Nguyên Huy Thắng, Nguyên Quốc Tín. - H .: Kim
Đóng, 2015. - 250tr.: hình v ẽ ; 21 cm. - (Thiên nhiên đất nước ta)
ISBN 9786042058056
1. Núi 2. Đổi 3. Việt Nam 4. Sách thiếu nhi
915.970943-dc23
KDM0327p-CIP
Thiên nhiên đất nước ta - Kì vĩ núi đèo
© Nguyễn Như Mai, Nguyên Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín
Xuất bản theo Hợp đổng sử dụng tác phẩm
giữa nhóm Tác giả và Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015
Bản quyén hình ảnh bìa, minh họa thuộc vé Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015
Vẽ bìa và minh họa: Nguyễn Doãn Som
Trình bày bìa: Tô Hổng Thủy
LỜI NÓI ĐẦU
N o n ' Sông, Đất - Nước, Gmng - Sơn' tổ hợp hai từ ấy, hai
yếu tố ấy tạo nên một từ thiêng liêng: T ổ quốc.
T ổ quốc không chỉ là khái niệm chung chung, mơ hồ, mà
chính là sông là núi, là mảnh đất tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên,
đã dùng sức lao động để tô điểm và dùng máu xương để bảo vệ.
Càng hiểu và bịết về thiên nhiên đất nước, ta càng thêm yêu,
thêm tự hào về T ổ quốc. Để có sự hiểu biết về non nước mình,
chúng ta phải học trong nhà trường, đọc trong sách báo và trải
nghiệm trong thực tế. Đồng thời, lại phải có ý thức thường xuyên
bồi bổ các kiến thức về địa lí, về thiên nhiên rất cần thiết cho mỗi
con người trong cuộc sống và cả trong công việc sau này. Bạn cần
biết về cương vực, lãnh thổ đất nước khi muốn đi vào nghiệp văn
chương, sử học, ngoại giao. Bạn cần thông thuộc địa hình, địa mạo
khi làm quy hoạch hay kiến trúc. Bạn càng cần nắm rõ về sông,
núi, biển, rừng của T ổ quốc nếu bạn làm nông nghiệp, khai thác
tài nguyên hay thương m ại... Khỏi phải nói, trong cuộc sống hằng
ngày, những kiến thức ấy giúp ích thế nào khi bạn đi du lịch khám
phá; sự hiểu biết sẽ làm cho bạn có ấn tượng sâu sắc hơn và thu
lượm được nhiều điều bổ ích hơn sau mỗi chuyến đi...
Bộ sách về thiên nhiên đất nước Việt Nam mà chúng tôi giới
thiệu với bạn đọc, đặc biệt với các bạn trẻ, chính là nhằm đem đến
những kiến thức bổ trợ giúp tăng cường vốn hiểu biết về địa lí của
bạn, và ' điều này mới là mục đích chính của bộ sách ' nhằm khơi
gợi tình yêu của mỗi người chúng ta đối với non sông đất nước
mình, bắt đầu từ ý thức tìm hiểu và nhận biết rõ về sông, núi quê
hương, biển, rừng Tổ quốc. Trước mắt, bộ sách sẽ bao gồm bốn
cuốn về núi non, sông ngòi, rừng và biển.
Mặc dù nhóm biên soạn đã cố gắng sưu tầm tư liệu, cập nhật
những thông tin mới và viết sao cho thấu đáo, dễ hiểu, dễ tiếp
nhận, song chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong
bạn đọc góp ý bổ khuyết cho bộ sách. Xin chân thành cám ơn!
NHÓM BIÊN SOẠN
Các tác giả xin được đặc biệt cám ơn PGS.
TS địa chất Tạ Hòa Phương đã đóng góp nhiều ý
kiến quý báu, đồng thời cho phép sử dụng một
số tư liệu hình ảnh trong quá trình biên soạn
cuốn sách này.
GIẢI MẢ BÍ ẨN CỦÀ NÚI
T ừ CÁI THUỞ BAN
T
sơ NGƯỜI VIỆT...
ruyền thuyết kể rằng, Lạc Long Quân là con vua
Kinh Dương Vương, nhân đi du ngoạn trên hồ Động
Đình mà gặp tiên nữ Âu Cơ, bèn cùng nhau kết duyên. Họ
sinh ra một trăm con trai. Sau đó, vì kẻ nòi rồng, người chốn
tiên, họ chia tay nhau. Năm mươi con theo cha xuống biển;
năm mươi con theo mẹ lên núi. Người con trưởng theo mẹ
Âu Cơ được lên làm vua, gọi là vua Hùng thứ nhất, lập kinh
đô Văn Lang ở miền núi Phong Châu, Phú Thọ...
Truyền thuyết là những trang sử truyền miệng, chứa
đựng nhiều huyền thoại, nhưng cũng mang trong mình các
hồi quang của lịch sử. Như ta vẫn nói, cách đây khoảng
bốn ngàn năm, trên đất nước ta đã hình thành một dạng
nhà nước sơ khai gọi là thời kì các vua Hùng. Như vậy, nước
Việt kể như được "lập quốc" ở miền đồi núi, sau đó mới tiến
xuống đồng bằng.
Nhưng trước đó thì sao? Các nghiên cứu khảo cổ học
cho thấy, trên dải đất Việt từ rất xa xưa đã có những con
người cổ sơ vừa thoát thai ra khỏi loài vượn người. Những
"cư dân" đầu tiên ấy đã có mặt cả ở miền Bắc lẫn miền
Nam. D ĩ nhiên, họ chưa biết làm nhà, phải sống trong các
hang núi. Và họ đã để lại trong hang động những di tích
cho đời sau. Tại các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng
Sơn), người ta đã tìm thấy những chiếc răng hóa thạch của
một phụ nữ trưởng thành và của một em bé khoảng chín
tuổi, ở vùng Núi Đọ (Thanh Hóa), tuy không tìm thấy xương
cốt hóa thạch của người xưa, nhưng còn đó những công cụ
đá thô sơ của người vượn cổ. Trong khi đó tại Xuân Lộc và
Dầu Giây (Đồng Nai), người ta cũng tìm thấy những công
cụ đẽo gọt bằng đá trên những ngọn đồi đá bazan...
Cả ba nhóm người này sống cách đây chừng 400 đến
200 ngàn năm, họ "ăn lông ở lỗ" trong các hang núi để
tránh mưa gió và thú dữ.
Những cư dân muộn hơn cũng để lại dấu vết hóa thạch
trong các hang động nhưở Kéo Lèng (Lạng Sơn), Thung Lang
(Ninh Bình), Nậm Tun (Lai Châu), Thần Sa (Thái Nguyên)...
Họ ngủ trong hang, đi săn bắt muông thú đem về nướng
trên bếp lửa, khi chết cũng được chôn cất trong hang.
Phải đến chừng 30-20 ngàn năm trước, các cư dân
mới mở rộng địa bàn khắp các vùng Bắc Việt Nam, từ
Thái Nguyên, Lào Cai, Tây Bắc cho đến Bắc Trung Bộ.
Các nhà khảo cổ học đặt tên cho họ là cư dân văn hóa
Ngườm và cư dân văn hóa Sơn Vi. Ngưởm là tên gọi theo
tiếng Tày, có nghĩa là Hang, vì di tích tìm thấy dưới mái
hang Ngườm. Những cư dân này vẫn tiếp tục cuộc sống
hoang dã gắn với núi rừng, bắt muông thú và hái lượm
thức ăn trong thiên nhiên.
Thế rồi, vào khoảng 12.000 đến 11.000 năm trước,
những cư dân trồng trọt đầu tiên bắt đầu xuất hiện. Nổi
tiếng với tên gọi "cư dân văn hóa Hòa Bình", họ không
chỉ săn bắt, hái lượm, mà còn biết mò cua ốc, bắt cá và
trồng những cây lương thực đầu tiên. Họ sống quần tụ
thành những cụm dân cư tập trung ở các thung lũng đá
vôi cacxtơ vùng Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Quảng Ninh,
Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình... Nơi cư trú
của họ là gần các cửa hang hoặc dưới mái đá, nơi có không
khí thoáng mát, nhiều ánh sáng và ở độ cao phổ biến từ 0,5
m đến 20 m so với mặt thung lũng.
Những chứng tích về thời tiền sử ấy được biết đến nhờ
các nhà khảo cổ học. Đến thời đại Hùng Vương thì bắt
đầu có tên gọi và được nhắc đến trong sử sách. Sách Lĩnh
Nam chích quái chép về cuộc sống thời Hồng Bàng như
sau: "H ồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây
làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy nước cốt gạo làm rượu,
lây cây quang lang, cây bung làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba
ba làm mắm, lây rễ gừng làm muối, phát nương, làm rẫy...
Lúc ấy dân sống ở rừng và chân núi, xuống nước đánh cá
thường bị giao long hại..."
Thời kì ở hang chấm dứt, người dân đã biết làm nhà
sàn để ở. Các điểm dân cư được quy tụ trên những đỉnh gò,
sườn đồi, chân núi và doi đất, vừa cao ráo vừa dễ phòng
thủ. "Kinh đô" nơi các vua, quan lang ở cũng nằm trên sườn
núi xung quanh vùng Gò Mun, Phong Châu, Phú Thọ. Sau
đó mới tiến dần xuống đồng bằng tạo dựng nên một nền
văn minh lúa nước.
Cuộc sống gắn liền với núi non, rừng rú nên ngày xưa
người ta luôn tôn thờ những hiện tượng thiên nhiên, như
sấm chớp, lũ lụt..., coi như thần thánh. Một trong những vị
thần được tôn thờ là Thần Núi hay Sơn Thần.
Truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh kể rằng, vào đời vua
Hùng thứ 18, nhà vua có nàng công chúa Mị Nương xinh
đẹp. Vua truyền tin kén rể hiền tài khắp cõi. Thủy Tinh và
Sơn Tinh cùng đến ra mắt. Vua Hùng không biết chọn ai,
bèn ra "đề thi" ai đem lễ vật đến trước thì được vua gả con
gái cho. Hình như nhà vua có ý thiên lệch, toàn đòi những
voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, đều là sản
vật của núi rừng. Nhờ vậy, Sơn Tinh đã "trúng cách" và
được đón Mị Nương về núi. Thủy Tinh tức giận, dâng cao
nước, đem đoàn quân thủy quái cua cá, thuồng luồng lên
đánh Sơn Tinh. Nhưng nước dâng đến đâu, Sơn Tinh dùng
phép thần thông cho núi mọc cao lên đến đó.
Sơn Tinh được dân thờ như một vị thần trong Tứ bất tử.
Cùng với Sơn Tinh, nhân dân nhiều nơi còn lập cả miếu thờ
các vị sơn thần khác là Cao Sơn và Quý Minh.
Giờ chúng ta cùng xem thực hư
chuyện núi non mọc lên như thế nào
nhé.
NÚI MỌC LÊN T ừ ĐÂU?
Núi kia ai đắp mà cao
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu ỉ
Từ thuở xa xưa, con người luôn tìm
hiểu nguồn gốc các hiện tượng thiên
nhiên, như sấm chớp, núi non, sông
ngòi, loài vật, cây cối... Họ đặt ra
những câu hỏi như trong câu ca
dao trên. Nhưng thật khó mà
tìm ra lời giải. Đành quy hết
cho Trời, cho các vị thần. Đó là các vị khổng lồ tạo nên tất
tật mọi thứ:
Ông Đếm cá t/Ô n g Tát b ể
Ông K ể sao / ông Đào sông
Ông Trồng c â y / ô n g Xây núi
Ông Túi trời / ông Cời cua
Ông Lùa chim / ông Tìm sâu
Ông Xâu cá...
Nhiều hiện tượng thiên nhiên đã được khoa học giải
thích từ lâu. Riêng về nguyên nhân tạo ra núi non như thế
nào, các nhà khoa học địa chất đã phải trải qua nhiều thế
kỉ mới đưa ra được những học thuyết đáng tin cậy.
Năm 1912, nhà địa vật lí người Đức Alíred VVegener
nhận ra một điều: Bờ biển châu Phi và Nam M ĩ có sự tương
đồng đến khó tin. Nếu đem ghép vào nhau thì hầu như
trùng khớp, giống hai miếng ghép của trò chơi ghép hình
vậy. VVegener đã đưa ra giả thuyết "lục địa trôi giạt", ông
cho rằng, các lục địa trên Trái đất trước kia không phải
giống như hiện tại, mà là một khối chung, sau đó mới tách
rời nhau ra. Để củng cố cho giả thuyết của mình, VVegener
còn chỉ ra sự giống nhau của các hóa thạch trong lòng đất
ở hai bên bờ đại dương, như một loài bò sát sống cách đây
240 triệu năm. Chắc chắn chúng không thể bơi qua cả một
đại dương mênh mông như vậy được, mà chúng đã bị chia
tách khi các mảng tách khỏi nhau.
Giả thuyết của VVegener ban đầu bị cho là "ngây thơ",
không được thừa nhận. Mãi đến nửa sau thế kỉ 20, ý tưởng
của ông mới được các nhà địa chất hoàn chỉnh, xây dựng
thành "Học thuyết kiến tạo mảng".
Theo học thuyết này, vỏ Trái đất không phải là một
lớp vỏ liền mạch như vỏ trứng, mà đã bị giập vỡ thành các
mảnh gắn liền nhau. Các mảnh này được gọi là các mảng
lục địa (dày) và mảng đại dương (mỏng), trôi giạt trên một
quyển mềm của lớp manti (lớp đặc quánh và nóng bỏng
bên dưới vỏ Trái đất). "Trôi giạt" là cách nói hình tượng
thôi, chứ thực tế hiện tượng địa chất này không diễn ra
nhanh chóng như những bè mảng trôi trên sông, mà chỉ
nhích từng tí, từng tí một, kéo dài suốt hàng chục, hàng
trăm triệu năm và nay vẫn tiếp diễn.
Người ta đã dựng lại được bản đồ các lục địa trên Trái
đất qua các thời kì khác nhau. Tạm phác họa như sau:
Vào khoảng 200 triệu năm trước, tất cả kết thành một
khối gọi là Toàn Lục Địa (Pangea).
Đến khoảng 130 triệu năm trước, châu Phi và Bắc Mĩ
tách ra; Ân Độ tiến sát gần mảng Á - Âu.
Khoảng 10 triệu năm trước, Nam Cực và châu ú c tách
khỏi châu Á. Bắc Mĩ và châu Âu rời xa nhau...
Khi các mảng chuyển dịch đâm vào nhau, sẽ có mảng
xô lên thành núi cao, có mảng chúi xuống bên dưới tạo
thành các đới hút chìm.
Khi các mảng tách rời nhau thì sẽ thành đại dương;
ở giữa chỗ tách giãn bị vỡ ra, dòng dung nham trong lòng
đất trào lên, tạo thành các dãy núi ngầm giữa đại dương.
Chẳng hạn khi châu Mĩ và châu Phi rời xa nhau đã hình
thành nên Đại Tây Dương, giữa đại dương này có một dãy
núi ngầm.
Nhắc đến chuyện bao la toàn cầu như vậy mới giải
thích được sự hình thành núi non ở nước ta. Trước hết, ta
thử xem núi non nước ta có những loại hình như thế nào.
Loại thường gặp nhất ở nước ta là núi uốn nếp, như dãy
núi Hoàng Liên Sơn, dây núi Con Voi hay Trường Sơn. Các
tầng đá bị xô đẩy, vò nhàu, biến chất: đá trầm tích cát kết,
đá phiến sét vốn mềm biến thành đá quaczit, đá gnai, đá
sừng rắn chắc, đá vôi biến thành đá hoa...
Núi uốn nếp
Loại thứ hai là núi dạng khôi do các đứt gãy làm cho
tầng đá ở hai bên sụt xuống, khối đá ở giữa nâng lên, nhưng
các địa tầng vẫn giữ nguyên thế nằm ngang, không bị vò
nhàu. Loại này ít thấy ở nước ta.
Núi dạng khối - đứt gãy
Loại thứ ba là núi xâm nhập. Nguyên là bên dưới lòng
đất có lò macma dưới dạng dung dịch đặc quánh nóng
bỏng. Do một nguyên nhân nào đó, dung dịch này chui
lên vỏ Trái đất, nhưng bị các địa tầng bên trên chặn lại.
Núi xâm nhập
Chúng không thoát ra ngoài, mà nguội dần, kết tinh thành
đá. Loại đá này rất cứng, như đá granit (hoa cương), đá
pecmatit... Sau này, khi mặt đất được nâng lên, các tầng
đá trầm tích phía trên bị bào mòn, thì lõi đá macma rắn
chắc phía dưới lộ ra. Dạng núi xâm nhập này thường tạo
nên các đỉnh núi cao ở nước ta, như núi Phia Ya, Phia
Biooc, Bạch Mã...
Núi lửa
Ngoài ba dạng núi trên còn có dạng núi lửa do dung
nham trào lên trên bề mặt. Khác với đá xâm nhập kết tinh
ở dưới sâu, các dung nham núi lửa được giải phóng nhanh
chóng đông cứng lại dưới dạng tro núi lửa hay đá bazan
màu xám. Núi lửa cổ thường có hình chóp nón, ở giữa có
hồ nước vốn là miệng núi lửa xa xưa. Dạng núi này gặp ở
Tây Nguyên, nhưng thường bị bào mòn, bồi lấp nên không
mấy khi nguyên vẹn.
Trải qua những thăng trầm, va đập trong quá khứ xa
xưa như thế nên hệ thống núi non nước Việt mới mang
những dáng dấp, hình thể như ngày nay.
NÚI NON MẤY Đ ộ SINH THÀNH
Địa hình nước ta có dạng hình chữ s, phình ra ởhai đầu
Bắc Bộ và Nam Bộ, uốn cong kéo dài một dải
ởTrung Bộ.
Địa hình ấy được hình thành và phát triển qua một
chiều dài lịch sử hàng ngàn triệu năm.
Thuở xa xưa, vào thời gọi là Thái cổ cách đây 2,5 tỉ
năm, toàn bộ địa hình đất nước ta khi ấy chìm trong biển
cả. Trên đáy biển tích tụ những lớp trầm tích, chứng tích
là những đá biến chất dày có tuổi 2,3 tỉ năm lộ ra ở thượng
nguồn Sông Chảy và Kon Tum. Từ đó vỏ lục địa mỏng manh
mới bắt đầu hình thành.
Mặt đất khi được nâng lên khi bị nhấn chìm xuống,
cùng với hiện tượng khi thì biển tiến vào đất liền, khi thì
biển thoái lui ra xa tít tắp. Hai mảng lục địa Á - Âu và mảng
Ân Độ từ hai phía dịch chuyển dần lại với nhau. Đến một
lúc nào đó hai mảng này đâm sầm vào nhau làm vỏ Trái đất
đảo lộn, nâng lên sụt xuống, vò nhàu, đứt gãy, dung nham
trào lên, động đất rung chuyển, núi lửa phun ào ạt... Một
cuộc "vận động tạo núi" đã từng diễn ra như thế.
Vỏ Trái đất nước ta đã chịu tác động của một số cuộc
vận động tạo núi qua các thời kì, trong đó lần cuối cùng
xảy ra khoảng 170 triệu năm trước, có tên là Inđôxini
(tức là Vận động Đông Dương). Đó là một cuộc vận động
mang tính cục bộ, "chốt" lại những xáo động v ĩ mô đối
với nước ta.
Mảnh đất Việt từ đây đã hình thành khung sườn "lục
địa", thoát hẳn ra khỏi chế độ biển, bước vào thời kì hoạt
động "tân kiến tạo" khắc họa nên tấm bản đồ địa hình
ngày nay. Cuộc vận động đáng kể nhất trong thời kì này
tạo nên dãy núi Himalaya cao ngất khi hai mảng kiến tạo
phía đông và tây lại xô vào nhau. Vận động này làm đùn
lên dây núi trẻ Hoàng Liên Sơn có đĩnh Phan Xi Păng, được
mệnh danh là nóc nhà Đông Dương và dãy Con Voi bên
cạnh có cấu tạo đá "cổ kính". Tại ranh giới hai mảng hình
thành một địa hào dọc theo đứt gãy sông Hồng theo hướng
tây bắc - đông nam. Hai cánh đông và tây ở hai bên đứt
gãy trượt so le nhau, cánh phía đông dịch lên phía tây bắc,
cánh phía tây trượt theo chiều ngược lại, tạo ra hình thế đối
xứng nghịch.
Phía cuối địa hào là một vùng trũng được lấp đầy trầm
tích trẻ hình thành nên đồng bằng Bắc Bộ.
Từ đây, nền móng nước ta đâ được cố kết, nhưng vẫn
có từng đợt nâng lên hạ xuống "nhẹ nhàng". Mỗi đợt nâng
lên lại tạo nên một mặt bằng như cao nguyên. Tiếp đó là
thời kì yên tĩnh để "các hoạt động của Thủy Tinh" diễn ra,
tức là các dòng nước xâm thực, xói mòn tạo ra các thung
lũng, hẻm vực chia cắt mặt bằng thành những ngọn núi,
khối núi riêng biệt. Cho nên có nhà địa lí Pháp trước đây
từng nói rằng ở miền Bắc Việt Nam không có núi mà chỉ
có những thung lũng, hẻm vực chia cắt địa hình mà thôi.
Đến giai đoạn cuối này, vùng Tây Nguyên có một đợt
núi lửa phun trào khá đồ sộ tạo nên một vùng đá bazan rộng
lớn. Các vùng trũng sông Hồng, sông Cửu Long được phù sa
bồi lấp thành các châu thổ. Thảng hoặc một vài nơi có núi
lửa thoi thóp phun lên như ở Phủ Quỳ, Vĩnh Linh, Lao Bảo
vào thời kì mà địa chất học gọi là kỉ Đệ tứ - khi loài người
đã làm chủ hành tinh.
Cuối cùng, bức tranh địa hình Việt Nam thể hiện trên
bản đồ như thế này:
Nhìn lên bản đồ châu Á, ta thấy dãy Himalaya đồ sộ
như nóc nhà của thế giới. Dãy núi này giống như một con
rồng vĩ đại, đầu là cao nguyên Tây Tạng có đỉnh Everest
cao chót vót 8.848 m, thân mình uốn lượn dọc theo biên
giới phía bắc Ân Độ, ngang qua cao nguyên Vân Nam theo
hướng tây - đông, sau đó quặt xuống dãy Hoàng Liên Sơn
nơi có đỉnh Phan Xi Păng và đuôi xòe tỏa rộng ra bao quanh
đồng bằng Bắc Bộ, chẽ xuống Trường Sơn và vẫy vùng nhấp
nhô dưới vịnh Hạ Long.
Phần "đuôi rồng" tạo ra hai mạch sơn văn chính ở nước
ta: các mạch núi hình vòng cung ở Đông Bắc và các mạch
núi hướng tây bắc - đông nam ở miền Tây Bắc và Trung Bộ.
Vòm Sông Chảy được hình thành sớm nhất, nhô lên
thành vồng có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.419 m) cao nhất miền
Đông Bắc. Vòm Sông Chảy là một "hạt nhân" có các lớp
"cánh cung" ôm lấy như những cánh hoa bao quanh bầu
nhị, những nan quạt xòe ra, đỉnh tụ lại ở dãy Tam Đảo. Mỗi
cánh cung là một mạch núi ngăn cách với nhau bởi một
thung lũng.
Phía trong cùng là Cánh cung Sông Câm chạy theo
hướng đông - tây, cấu tạo bởi đá vôi và sa diệp thạch (cát
kết và đá phiến). Phía bắc của nó là sơn nguyên đá vôi
Đồng Văn - Quản Bạ.
Vùng trũng xen kẽ chuyển tiếp sang cánh cung khác
là thung lũng sông
cầu cày
xới trên nền đá sa thạch xen
diệp thạch.
Cánh cung thứ hai là Cánh cung Ngân Sơn chủ yếu là
sa diệp thạch xen một ít đá vôi. Cánh cung này nối với dãy
núi Yên Lạc, thành một cánh cung hoàn chỉnh có mặt lồi
về phía đông.
Cánh cung thứ ba - Cánh cung Bắc Sơn, chij yếu là
khối đá vôi chạy dài từ bắc Thái Nguyên tới phía tây và
nam Lạng Sơn, đã chuyển hướng tây nam - đông bắc rõ rệt.
Tại đây có dạng "địa hình đảo ngược", vì vốn dĩ là một nếp
lồi do hoạt động kiến tạo được nâng lên, nhưng đỉnh nếp
lồi lại bị bào mòn mạnh, nên trũng xuống.
Cánh cung bọc ngoài cùng là Cánh cung Đông Triều,
gồm hai dãy núi Nam Mầu và Bình Liêu kết hợp lại, ban
đầu chạy theo hướng vĩ tuyến tây - đông sát bờ biển vịnh
Bắc Bộ, rồi lùi dần về phía bắc. Cánh cung này không liên
tục, ở giữa là vùng núi thấp và bị nhiều sông suối cắt ngang
như sông Ba Chẽ, sông Phố Cũ, sông Tiên Yên...
Sự hình thành các cánh cung núi có ảnh hưởng rõ rệt
tới thời tiết, khí hậu miền này. Hằng ngày, trên chương trình
dự báo khí tượng của đài truyền hình, ta thấy nhiệt độ miền
Đông Bắc vào mùa đông thường thấp hơn miền Tây Bắc
một vài độ. Sở dĩ như vậy là do gió mùa từ phía đông bắc
hun hút thổi về qua những "miệng phễu" mở rộng, mang
cái giá rét thông thốc đột nhập vào các thung lũng nơi đây.
Tiếp theo, chúng ta sẽ đến với các dãy núi chính của
nước ta. Trước hết là các mạch núi miền Tây Bắc. Kẹp giữa
sông Hồng và sông Đà là dãy Hoàng Liên Sơn sừng sững
như nóc nhà Việt Nam và của cả Đông Dương. Đỉnh cao
nhất là Phan Xi Păng cao 3.143 m.
Do bị nén ép từ hai phía tạo nên các đứt gãy song song,
núi non miền Tây Bắc cho đến miền Bắc Trung Bộ có kết cấu
thành các dải sơn nguyên và sông suối kéo dài theo hướng
tây bắc - đông nam. Các sơn nguyên này phần lớn được
cấu tạo bởi đá vôi. Từ Sơn La xuống Mộc Châu, Hòa Bình,
Bản đồ địa hình Việt Nam
IV
20
độ cao các sơn nguyên đá vôi này cứ hạ thấp dần và chấm
dứt ở Ninh Bình.
Tây Bắc còn có một khối núi lớn nữa ở thượng nguồn
sông Mã. Dãy núi này có độ cao trung bình, hơi bè rộng
vòng sang bên nước bạn Lào và lan tỏa xuống tận xứ Thanh.
Đây chính là đường phân thủy, một bên nước đổ vào hệ
thống sông Mê Kông, một bên nước đổ xuống sông Mã.
Dây núi lớn tiếp theo mà người Việt Nam ai cũng biết
đến là dãy Trường Sơn, xuất phát từ thượng nguồn sông Cả
trên đất Lào kéo dài mãi đến Nam Trung Bộ.
Trường Sơn có nghĩa là "núi dài". Quả thật đây là dãy
núi dài nhất Đông Dương, chiều dài khoảng 1.100 km.
Các nhà địa lí chia ra thành Trường Sơn Bắc và Trường
Sơn Nam.
Trường Sơn Bắc được kể từ cao nguyên Trấn Ninh bên
Lào, gồm nhiều nếp núi song song, xếp so le kiểu cánh gà
theo hướng tây bắc - đông nam, kéo dài tới sát biển Đà
Nang. Đây là một miền núi già, bị chia cắt nhiều bởi những
con đèo, hẻm sông, với những đỉnh Phu Lai Leng, Rào
cỏ,
Ba Rền, u Bò...
Gió tây vượt qua đỉnh Trường Sơn tạo thành thứ "gió
Lào" khô nóng. Ngược lại phía sườn đông hứng mưa bão từ
Biển Đông tràn về gây lũ lụt hằng năm. Dãy Bạch Mâ lại
tạo một đường ranh giới khí hậu phía bắc và phía nam khi
ta vượt qua đèo Hải Vân.
Từ Đà Nẵng trở vào thuộc dãy Trường Sơn Nam, mạch
núi đã bắt đầu chuyển dần theo hướng bắc tây bắc - nam
đông nam, rồi chuyển thành hướng bắc - nam. Phía tây đất
nước vồng cao lên khối cao nguyên Tây Nguyên đất đỏ trên
đá bazan.
Các núi ở Nam Trung Bộ ngoặt sang hướng đông bắc tây nam, thấp dần xuống miền Đông Nam Bộ...
Hệ thống sơn văn ấy chính là "xương cốt" hình thành
nên hình dạng chữ
s của đất nước ta, uốn lượn bên
bờ Biển
Đông sóng vỗ.
NÚI CAO. NÚI THÁP VÀ CAO NGUYÊN...
Liên quan đến những khái niệm này, trước hết chúng
ta cần làm rõ: Thế nào gọi là núi? Từ điển tiếng Việt của
Viện Ngôn ngữ học (2001) giải thích: "N úi - Địa hình lồi,
sườn dốc, nổi cao lên trên mặt đất, thường cao trên 200 m".
Thấp hơn thì gọi là đồi: "Dạng địa hình lồi, có sườn thoải,
thường không cao quá 200 m".
Với các nhà địa lí, việc phân chia định loại chi tiết
hơn, thành các dạng núi cao, núi trung bình, núi thấp, sơn
nguyên, cao nguyên, đồi và bán bình nguyên.
- Núi cao phải kể từ 2.500 m trở lên. ở nước ta dạng
núi cao như thế chỉ chiếm 1% diện tích, phân bố tập trung
ở miền Tây Bắc. Các núi cao này thuộc loại "trẻ", được
nâng lên mạnh và thường cấu tạo bởi các loại đá cứng rắn
nhưgranit và xienit, nên địa hình sắc sảo, đường phân thijy
như những răng cưa, có những đỉnh nhọn hoắt. Sườn núi
rất dốc, đến 35 - 40°, ở giáp đỉnh và dưới chân có khi tới
45 - 50°. Các thung lũng thường là những hành lang hẹp,
vách đứng, cứ như những nhát xẻ. Nước chảy xiết, cuồn
cuộn trôi, xâm thực mãnh liệt.
Núi cao nhất ở nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh
Phan Xi Păng 3.143 m. Một số núi khác cũng được kể là
núi cao, như Tả Yang Pinh 3.096 m, Pu Luông 2.913 m, Pu
Lai Leng 2.711 m, Tây Côn Lĩnh 2.419 m. Các núi đó đều
ở miền Bắc. Miền Nam có đỉnh Ngọc Lĩnh cao 2.598 m, A
Tuất 2.500 m.
- Dạng núi cao trung bình cỏ đỉnh từ 1.500 đến 2.500
m, hình dáng vòm khối tảng, cấu tạo từ đá granit và đá biến
chất uốn nếp, sườn dốc 25 - 30°, thung lũng hẹp.
Có thể kể đến các đỉnh Pu Tha Ca 2.274 m, Kiều Liêu
Ti 2.403 m, Phia Ya 1.981 m, Phia oắc 1.931 m ở miền
Đông Bắc; Pu Sam Sao 1.898 m, Tà Phình 1.861 m, Pi
Phạc Me 1.809 m ở miền Tây Bắc; các ngọn Pu Lai Leng
2.711 m, Chử Yang Sin 2.405 m, Bi Đúp 2.297 m, Rào
Cỏ 2.286 m, Lang Biang 2.163 m, Vọng Phu 2.022 m, Ta
Dưng 1.892 m ở miền Nam trên dây Trường Sơn...
- Núi thấp có độ cao từ 500 đến 1.500 m. Đây là dạng
núi chiếm đa số ở miền núi nước ta, được cấu tạo bởi đủ thứ
đá từ trầm tích, biến chất đến macma. Các dây núi cánh
cung Đông Bắc hay phần lớn dãy Trường Sơn đều thuộc
dạng này. Tuy nhiên, cũng có những đỉnh núi chỉ đạt độ
cao trung bình, nhưng so với xung quanh lại là núi cao, như
núi Mẩu Sơn 1.541 m, đỉnh Tản Viên 1.281 m...
- Cao nguyên là những vùng cao có bề mặt tương đối
bằng phẳng, cao thấp chênh nhau không quá 25 m. ở nước
ta chỉ có vùng Tây Nguyên có lớp bazan phủ tràn đều trên
nền đá cổ tạo thành bề mặt lượn sóng nhấp nhô có thể coi
là cao nguyên.
Một số nơi quen gọi là cao nguyên như "cao nguyên
đá" Đồng Văn, cao nguyên Bắc Hà - Mường Khương, cao
nguyên Sơn La... được cấu tạo bởi đá vôi, tuy cũng có những
đỉnh cao sàn sàn nhau, nhưng đã bị xâm thực chia cắt
thành các thung đôi khi rất sâu, chỉ nên gọi là sơn nguyên.
- Đồi có độ cao tương đối (tính từ chân tới đỉnh) từ 25
đến 200 m, độ cao tuyệt đối so với mặt biển dưới 500 m. ở
nước ta, vùng đồi rộng lớn nhất là vùng Đông Bắc từ cánh
cung Ngân Sơn đến sát đồng bằng, mà ta quen gọi là miền
trung du. Sông suối víjng đồi vẫn có sức xâm thực vào đất
Các dạng núi đồi
đá, nhưng dòng chảy đã yếu đi, tạo nên những bậc thềm và
bâi bồi trong các thung lũng bên sông.
Do quá trình phong hóa, trên bề mặt vùng đồi hình
thành một loại "đá" đặc biệt là đá ong. Đá ong khi nằm
dưới đất còn mềm có thể dùng mai, xẻng xắn thành từng
tảng vuông vắn, khi phơi lên mặt đất trở nên rắn chắc,
dùng để làm nhà, xây tường chắn quanh sân vườn...
Diện tích các đồi tương đương với diện tích núi. Do sự
xâm thực của sông, suối trong suốt quá trình hình thành,
các đồi tạo thành những bậc thềm tương đối có cùng độ
cao. Nếu như các vùng núi còn hoang sơ thì các vùng đồi
hầu như đã được con người khai thác, quần tụ thành làng
mạc, khu dân cư, đất trồng trọt; rừng nguyên sinh đã được
thay thế bằng rừng thứ sinh hay rừng trồng cây thuần chủng
dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp.
Chúng ta hãy tưởng tượng, châu thổ Sông Hồng như
một sân bóng khổng lồ của những người khổng lồ, thì những
bậc thềm sông và các mặt bằng núi non bao quanh chẳng
khác nào những bậc ghế từ thấp lên cao quanh sân vận
động dành cho những khán giả khổng lồ vậy.
Vùng đồng bằng Bắc Bộ hầu như tỉnh nào cũng có
những đồi thấp, trừ hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên.
Đôi khi các địa hình nhô lên ở đồng bằng chỉ là đồi
nếu theo đúng "tiêu chuẩn", nhưng do có độ cao tương đối
so với xung quanh nên vẫn được gọi là "núi", như núi Phật
Tích, núi Côn Sơn...
- Cacxtơ: Nước ta có nhiều khối đá vôi rộng lớn tạo
nên các dạng địa hình cacxtơ độc đáo, những đỉnh núi dốc
đứng trơ trụi, những thung lũng, những cánh đồng cacxtơ,
những hang động kì thú. Ta sẽ dành hẳn một mục riêng để
nói về loại địa hình đặc biệt này.
NGUỒN CỦA CHÌM GIẤU TRONG LÒNG ĐẤT
Tại sao có mỏ quý trong lòng đất? Đó cũng là những bí
ẩn mà bao thế hệ các nhà khoa học trên thế giới tìm cách
khám phá.
Trước tiên nói về loại mỏ sinh ra từ bên trong lòng
đất, gọi là "mỏ nội sinh", ở bên dưới vỏ Trái đất có các lò
macma nóng chảy chẳng khác gì lò luyện đan của Thái
Thượng Lão Quân trong thần thoại. Cái mớ hổ lốn nóng
bỏng bị nén chặt ấy chứa đủ thứ nguyên tố. Một khi vỏ Trái
đất bên trên bị xô đẩy, xuất hiện các khe nứt, thì những
dòng dung nham lập tức có cơ hội xuyên lên. Nhiều trường
hợp nó chưa tới được mặt đất mà chỉ xuyên đến một mức
nào đó thì đã nguội lạnh đi, tạo thành các khối đá xâm
nhập, như đá granit (hoa cương), đá xienit. Giữa khối đá,
các khoáng vật được kết tinh thành tinh thể như thạch anh,
íenspat, mica, nhưng chúng vẫn chỉ là khoáng vật tạo đá
nằm sít sịt nhau, ít thành mỏ quặng. Trong khi ở phần bên
rìa, quá trình hạ nhiệt dần dần theo từng giai đoạn đã tạo
điều kiện cho những tinh thể kết tinh thành các loại quặng
khác nhau, như quặng thiếc, chì, kẽm, hay kim loại tự sinh
^26
như vàng. (Vàng gốc không cần kết hợp với nguyên tố khác
được gọi là vàng tự sinh). Macma còn có thể len lỏi theo
các khe nứt đi lên phía trên, tạo ra các mỏ cách xa khối đá
xâm nhập chính.
Trường hợp dòng dung nham xuyên thủng được lên bề
mặt sẽ tạo nên núi lửa. Tro núi lửa phun lên cao tích tụ lại
thành loại đá túp, xốp nhẹ. Dung nham núi lửa nguội lạnh
tạo thành các khối đá bazan, thường có cấu tạo dạng cột.
Đá bazan sau này bị phong hóa thành quặng bauxit. Dung
nham đọng lại trong họng núi lửa tạo thành một loại đá đặc
biệt gọi là kimbeclit; những viên kim cương lấp lánh chính
là được hình thành trong các đá họng núi lửa này.
Dù cứng rắn như thế nào, trải qua năm tháng dưới
nắng nung, nước xói, đá cũng phải rã rời, vỡ ra thành hòn,
thành cuội, thành cát. Những vật liệu bở rời này trôi theo
dòng nước tích tụ lại thành các tầng, các vỉa, nhưng do
nặng nhẹ khác nhau, được sàng sê thành các vỉa quặng
dạng cát. Các mỏ vàng, mỏ thiếc, mỏ titan sa khoáng... đã
được hình thành như vậy.
Người ta gọi các mỏ trầm tích sinh ra trên bề mặt đất
như thế là mỏ ngoại sinh. Mỏ than cũng là mỏ ngoại sinh,
nhưng không phải do tích tụ của đá vụn, mà do những cánh
rừng thời xa xưa bị vùi lấp dưới nước, bị nén ép, cháy ngầm
hóa thành các vỉa than. Khi còn "non" là than bùn, than
nâu, than lửa dài; khi "già", thành than mỡ, than đá, than
antraxit...
Sự hình thành của các mỏ dầu là do trầm tích động
vật, tảo biển và vi sinh vật bị phân hủy dưới sâu biến thành
chất lỏng sền sệt hoặc khí đốt. Chất lỏng này nhẹ hơn nên
len lỏi qua các lỗ hổng chui lên, trên đường đi bị chặn lại
bởi các "bẫy" - những vòm đá chắn phía trên - tụ lại thành
Khai thác mỏ
mỏ dầu. Tuy nhiên, đây chỉ là một giả thuyết. Nguyên nhân
của sự tạo thành dầu mỏ vẫn còn nhiều bí ẩn. Hiện nay
người ta đâ phát hiện dầu mỏ không chỉ nằm trong các tầng
đá trầm tích mà còn trong các đá nền móng xâm nhập bên
dưới, nghĩa là dầu mỏ cũng có thể tạo ra từ sự kết hợp các
nguyên tố trong lò macma!
Điều kiện địa chất nước ta rất thuận lợi cho việc sinh
thành các mỏ. Do những vận động tạo núi, vỏ Trái đất nước
ta bị xô đẩy, uốn nếp, đứt gây, vỡ vụn, tạo điều kiện cho các
lò macma dâng lên đem theo nhiều khoáng sản kết đọng
lại thành mỏ.
Mỏ sắt Thái Nguyên đã được khai thác và xây dựng
thành Khu gang thép từ hơn nửa thế kỉ trước. Nhưng những
mỏ tìm thấy sau này có trữ lượng còn lớn hơn rất nhiều, như
mỏ Quý Xa (Yên Bái), mỏ Tòng Bá (Hà Giang). Lớn nhất là
mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh). Ngoài ra, ở Cao Bằng, Thanh
Hóa, Quảng Ngãi... cũng có những mỏ sắt nhỏ.
Mỏ cromit
cổ Định
(Thanh Hóa) có nguồn gốc sinh
thành là khối đá xâm nhập periđotit Núi Nưa. Mỏ này đã
được người Pháp phát hiện và khai thác từ năm 1927. Từ
khoáng vật cromit, người ta lấy ra được crom rất cần thiết
trong công nghiệp chế tạo các hợp kim, thép không gỉ và
mạ kim loại.
Mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) là mỏ thiếc duy nhất được
người Pháp biết đến và khai thác từ năm 1903 để chuyển
về chính quốc. Quặng thiếc có nguồn gốc từ khối đá granit
Phia Oăc, bị bào mòn phá hủy thành các hạt trầm tích sa
khoáng trong thung lũng sông. Ngày nay đã tìm được thêm
nhiều mỏ thiếc ở Tam Đảo, Sơn Dương (Tuyên Quang), Quỳ
Châu (Nghệ An) và Thường Xuân (Thanh Hóa).
Bauxit là quặng dùng để luyện nhôm, một kim loại
mang tính chiến lược. Mỏ bauxit của nước ta nằm rải rác
trên các khu vực đá vôi tuổi Pecmi*'*, như ở Lạng Sơn, Tuyên
Quang, Lai Châu, Sơn La, kể cả ở Hải Dương. Tuy nhiên,
chỉ mỏ bauxit phong hóa trên đá bazan ở Tây Nguyên mới
được xếp vào một trong năm khu vực có trữ lượng bauxit
lớn nhất thế giới.
Đất hiếm là tên gọi chung của một nhóm kim loại có
tính chất hết sức đặc biệt và không thể thiếu được đối với
các ngành công nghệ cao, chiếm tỉ lệ rất nhỏ trên vỏ Trái
đất. Đất hiếm thường rất phân tán, ít khi tập trung thành
mỏ quặng. Như...
NGUYỄN QUỐC TÍN
THIÊN NHIÊN ĐẤT N ư ớ c TA
KÌ VĨ NÚI ĐÈO
NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỔNG
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Như Mai
Kì vĩ núi đèo / Nguyên Như Mai, Nguyên Huy Thắng, Nguyên Quốc Tín. - H .: Kim
Đóng, 2015. - 250tr.: hình v ẽ ; 21 cm. - (Thiên nhiên đất nước ta)
ISBN 9786042058056
1. Núi 2. Đổi 3. Việt Nam 4. Sách thiếu nhi
915.970943-dc23
KDM0327p-CIP
Thiên nhiên đất nước ta - Kì vĩ núi đèo
© Nguyễn Như Mai, Nguyên Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín
Xuất bản theo Hợp đổng sử dụng tác phẩm
giữa nhóm Tác giả và Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015
Bản quyén hình ảnh bìa, minh họa thuộc vé Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015
Vẽ bìa và minh họa: Nguyễn Doãn Som
Trình bày bìa: Tô Hổng Thủy
LỜI NÓI ĐẦU
N o n ' Sông, Đất - Nước, Gmng - Sơn' tổ hợp hai từ ấy, hai
yếu tố ấy tạo nên một từ thiêng liêng: T ổ quốc.
T ổ quốc không chỉ là khái niệm chung chung, mơ hồ, mà
chính là sông là núi, là mảnh đất tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên,
đã dùng sức lao động để tô điểm và dùng máu xương để bảo vệ.
Càng hiểu và bịết về thiên nhiên đất nước, ta càng thêm yêu,
thêm tự hào về T ổ quốc. Để có sự hiểu biết về non nước mình,
chúng ta phải học trong nhà trường, đọc trong sách báo và trải
nghiệm trong thực tế. Đồng thời, lại phải có ý thức thường xuyên
bồi bổ các kiến thức về địa lí, về thiên nhiên rất cần thiết cho mỗi
con người trong cuộc sống và cả trong công việc sau này. Bạn cần
biết về cương vực, lãnh thổ đất nước khi muốn đi vào nghiệp văn
chương, sử học, ngoại giao. Bạn cần thông thuộc địa hình, địa mạo
khi làm quy hoạch hay kiến trúc. Bạn càng cần nắm rõ về sông,
núi, biển, rừng của T ổ quốc nếu bạn làm nông nghiệp, khai thác
tài nguyên hay thương m ại... Khỏi phải nói, trong cuộc sống hằng
ngày, những kiến thức ấy giúp ích thế nào khi bạn đi du lịch khám
phá; sự hiểu biết sẽ làm cho bạn có ấn tượng sâu sắc hơn và thu
lượm được nhiều điều bổ ích hơn sau mỗi chuyến đi...
Bộ sách về thiên nhiên đất nước Việt Nam mà chúng tôi giới
thiệu với bạn đọc, đặc biệt với các bạn trẻ, chính là nhằm đem đến
những kiến thức bổ trợ giúp tăng cường vốn hiểu biết về địa lí của
bạn, và ' điều này mới là mục đích chính của bộ sách ' nhằm khơi
gợi tình yêu của mỗi người chúng ta đối với non sông đất nước
mình, bắt đầu từ ý thức tìm hiểu và nhận biết rõ về sông, núi quê
hương, biển, rừng Tổ quốc. Trước mắt, bộ sách sẽ bao gồm bốn
cuốn về núi non, sông ngòi, rừng và biển.
Mặc dù nhóm biên soạn đã cố gắng sưu tầm tư liệu, cập nhật
những thông tin mới và viết sao cho thấu đáo, dễ hiểu, dễ tiếp
nhận, song chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong
bạn đọc góp ý bổ khuyết cho bộ sách. Xin chân thành cám ơn!
NHÓM BIÊN SOẠN
Các tác giả xin được đặc biệt cám ơn PGS.
TS địa chất Tạ Hòa Phương đã đóng góp nhiều ý
kiến quý báu, đồng thời cho phép sử dụng một
số tư liệu hình ảnh trong quá trình biên soạn
cuốn sách này.
GIẢI MẢ BÍ ẨN CỦÀ NÚI
T ừ CÁI THUỞ BAN
T
sơ NGƯỜI VIỆT...
ruyền thuyết kể rằng, Lạc Long Quân là con vua
Kinh Dương Vương, nhân đi du ngoạn trên hồ Động
Đình mà gặp tiên nữ Âu Cơ, bèn cùng nhau kết duyên. Họ
sinh ra một trăm con trai. Sau đó, vì kẻ nòi rồng, người chốn
tiên, họ chia tay nhau. Năm mươi con theo cha xuống biển;
năm mươi con theo mẹ lên núi. Người con trưởng theo mẹ
Âu Cơ được lên làm vua, gọi là vua Hùng thứ nhất, lập kinh
đô Văn Lang ở miền núi Phong Châu, Phú Thọ...
Truyền thuyết là những trang sử truyền miệng, chứa
đựng nhiều huyền thoại, nhưng cũng mang trong mình các
hồi quang của lịch sử. Như ta vẫn nói, cách đây khoảng
bốn ngàn năm, trên đất nước ta đã hình thành một dạng
nhà nước sơ khai gọi là thời kì các vua Hùng. Như vậy, nước
Việt kể như được "lập quốc" ở miền đồi núi, sau đó mới tiến
xuống đồng bằng.
Nhưng trước đó thì sao? Các nghiên cứu khảo cổ học
cho thấy, trên dải đất Việt từ rất xa xưa đã có những con
người cổ sơ vừa thoát thai ra khỏi loài vượn người. Những
"cư dân" đầu tiên ấy đã có mặt cả ở miền Bắc lẫn miền
Nam. D ĩ nhiên, họ chưa biết làm nhà, phải sống trong các
hang núi. Và họ đã để lại trong hang động những di tích
cho đời sau. Tại các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng
Sơn), người ta đã tìm thấy những chiếc răng hóa thạch của
một phụ nữ trưởng thành và của một em bé khoảng chín
tuổi, ở vùng Núi Đọ (Thanh Hóa), tuy không tìm thấy xương
cốt hóa thạch của người xưa, nhưng còn đó những công cụ
đá thô sơ của người vượn cổ. Trong khi đó tại Xuân Lộc và
Dầu Giây (Đồng Nai), người ta cũng tìm thấy những công
cụ đẽo gọt bằng đá trên những ngọn đồi đá bazan...
Cả ba nhóm người này sống cách đây chừng 400 đến
200 ngàn năm, họ "ăn lông ở lỗ" trong các hang núi để
tránh mưa gió và thú dữ.
Những cư dân muộn hơn cũng để lại dấu vết hóa thạch
trong các hang động nhưở Kéo Lèng (Lạng Sơn), Thung Lang
(Ninh Bình), Nậm Tun (Lai Châu), Thần Sa (Thái Nguyên)...
Họ ngủ trong hang, đi săn bắt muông thú đem về nướng
trên bếp lửa, khi chết cũng được chôn cất trong hang.
Phải đến chừng 30-20 ngàn năm trước, các cư dân
mới mở rộng địa bàn khắp các vùng Bắc Việt Nam, từ
Thái Nguyên, Lào Cai, Tây Bắc cho đến Bắc Trung Bộ.
Các nhà khảo cổ học đặt tên cho họ là cư dân văn hóa
Ngườm và cư dân văn hóa Sơn Vi. Ngưởm là tên gọi theo
tiếng Tày, có nghĩa là Hang, vì di tích tìm thấy dưới mái
hang Ngườm. Những cư dân này vẫn tiếp tục cuộc sống
hoang dã gắn với núi rừng, bắt muông thú và hái lượm
thức ăn trong thiên nhiên.
Thế rồi, vào khoảng 12.000 đến 11.000 năm trước,
những cư dân trồng trọt đầu tiên bắt đầu xuất hiện. Nổi
tiếng với tên gọi "cư dân văn hóa Hòa Bình", họ không
chỉ săn bắt, hái lượm, mà còn biết mò cua ốc, bắt cá và
trồng những cây lương thực đầu tiên. Họ sống quần tụ
thành những cụm dân cư tập trung ở các thung lũng đá
vôi cacxtơ vùng Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Quảng Ninh,
Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình... Nơi cư trú
của họ là gần các cửa hang hoặc dưới mái đá, nơi có không
khí thoáng mát, nhiều ánh sáng và ở độ cao phổ biến từ 0,5
m đến 20 m so với mặt thung lũng.
Những chứng tích về thời tiền sử ấy được biết đến nhờ
các nhà khảo cổ học. Đến thời đại Hùng Vương thì bắt
đầu có tên gọi và được nhắc đến trong sử sách. Sách Lĩnh
Nam chích quái chép về cuộc sống thời Hồng Bàng như
sau: "H ồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây
làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy nước cốt gạo làm rượu,
lây cây quang lang, cây bung làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba
ba làm mắm, lây rễ gừng làm muối, phát nương, làm rẫy...
Lúc ấy dân sống ở rừng và chân núi, xuống nước đánh cá
thường bị giao long hại..."
Thời kì ở hang chấm dứt, người dân đã biết làm nhà
sàn để ở. Các điểm dân cư được quy tụ trên những đỉnh gò,
sườn đồi, chân núi và doi đất, vừa cao ráo vừa dễ phòng
thủ. "Kinh đô" nơi các vua, quan lang ở cũng nằm trên sườn
núi xung quanh vùng Gò Mun, Phong Châu, Phú Thọ. Sau
đó mới tiến dần xuống đồng bằng tạo dựng nên một nền
văn minh lúa nước.
Cuộc sống gắn liền với núi non, rừng rú nên ngày xưa
người ta luôn tôn thờ những hiện tượng thiên nhiên, như
sấm chớp, lũ lụt..., coi như thần thánh. Một trong những vị
thần được tôn thờ là Thần Núi hay Sơn Thần.
Truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh kể rằng, vào đời vua
Hùng thứ 18, nhà vua có nàng công chúa Mị Nương xinh
đẹp. Vua truyền tin kén rể hiền tài khắp cõi. Thủy Tinh và
Sơn Tinh cùng đến ra mắt. Vua Hùng không biết chọn ai,
bèn ra "đề thi" ai đem lễ vật đến trước thì được vua gả con
gái cho. Hình như nhà vua có ý thiên lệch, toàn đòi những
voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, đều là sản
vật của núi rừng. Nhờ vậy, Sơn Tinh đã "trúng cách" và
được đón Mị Nương về núi. Thủy Tinh tức giận, dâng cao
nước, đem đoàn quân thủy quái cua cá, thuồng luồng lên
đánh Sơn Tinh. Nhưng nước dâng đến đâu, Sơn Tinh dùng
phép thần thông cho núi mọc cao lên đến đó.
Sơn Tinh được dân thờ như một vị thần trong Tứ bất tử.
Cùng với Sơn Tinh, nhân dân nhiều nơi còn lập cả miếu thờ
các vị sơn thần khác là Cao Sơn và Quý Minh.
Giờ chúng ta cùng xem thực hư
chuyện núi non mọc lên như thế nào
nhé.
NÚI MỌC LÊN T ừ ĐÂU?
Núi kia ai đắp mà cao
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu ỉ
Từ thuở xa xưa, con người luôn tìm
hiểu nguồn gốc các hiện tượng thiên
nhiên, như sấm chớp, núi non, sông
ngòi, loài vật, cây cối... Họ đặt ra
những câu hỏi như trong câu ca
dao trên. Nhưng thật khó mà
tìm ra lời giải. Đành quy hết
cho Trời, cho các vị thần. Đó là các vị khổng lồ tạo nên tất
tật mọi thứ:
Ông Đếm cá t/Ô n g Tát b ể
Ông K ể sao / ông Đào sông
Ông Trồng c â y / ô n g Xây núi
Ông Túi trời / ông Cời cua
Ông Lùa chim / ông Tìm sâu
Ông Xâu cá...
Nhiều hiện tượng thiên nhiên đã được khoa học giải
thích từ lâu. Riêng về nguyên nhân tạo ra núi non như thế
nào, các nhà khoa học địa chất đã phải trải qua nhiều thế
kỉ mới đưa ra được những học thuyết đáng tin cậy.
Năm 1912, nhà địa vật lí người Đức Alíred VVegener
nhận ra một điều: Bờ biển châu Phi và Nam M ĩ có sự tương
đồng đến khó tin. Nếu đem ghép vào nhau thì hầu như
trùng khớp, giống hai miếng ghép của trò chơi ghép hình
vậy. VVegener đã đưa ra giả thuyết "lục địa trôi giạt", ông
cho rằng, các lục địa trên Trái đất trước kia không phải
giống như hiện tại, mà là một khối chung, sau đó mới tách
rời nhau ra. Để củng cố cho giả thuyết của mình, VVegener
còn chỉ ra sự giống nhau của các hóa thạch trong lòng đất
ở hai bên bờ đại dương, như một loài bò sát sống cách đây
240 triệu năm. Chắc chắn chúng không thể bơi qua cả một
đại dương mênh mông như vậy được, mà chúng đã bị chia
tách khi các mảng tách khỏi nhau.
Giả thuyết của VVegener ban đầu bị cho là "ngây thơ",
không được thừa nhận. Mãi đến nửa sau thế kỉ 20, ý tưởng
của ông mới được các nhà địa chất hoàn chỉnh, xây dựng
thành "Học thuyết kiến tạo mảng".
Theo học thuyết này, vỏ Trái đất không phải là một
lớp vỏ liền mạch như vỏ trứng, mà đã bị giập vỡ thành các
mảnh gắn liền nhau. Các mảnh này được gọi là các mảng
lục địa (dày) và mảng đại dương (mỏng), trôi giạt trên một
quyển mềm của lớp manti (lớp đặc quánh và nóng bỏng
bên dưới vỏ Trái đất). "Trôi giạt" là cách nói hình tượng
thôi, chứ thực tế hiện tượng địa chất này không diễn ra
nhanh chóng như những bè mảng trôi trên sông, mà chỉ
nhích từng tí, từng tí một, kéo dài suốt hàng chục, hàng
trăm triệu năm và nay vẫn tiếp diễn.
Người ta đã dựng lại được bản đồ các lục địa trên Trái
đất qua các thời kì khác nhau. Tạm phác họa như sau:
Vào khoảng 200 triệu năm trước, tất cả kết thành một
khối gọi là Toàn Lục Địa (Pangea).
Đến khoảng 130 triệu năm trước, châu Phi và Bắc Mĩ
tách ra; Ân Độ tiến sát gần mảng Á - Âu.
Khoảng 10 triệu năm trước, Nam Cực và châu ú c tách
khỏi châu Á. Bắc Mĩ và châu Âu rời xa nhau...
Khi các mảng chuyển dịch đâm vào nhau, sẽ có mảng
xô lên thành núi cao, có mảng chúi xuống bên dưới tạo
thành các đới hút chìm.
Khi các mảng tách rời nhau thì sẽ thành đại dương;
ở giữa chỗ tách giãn bị vỡ ra, dòng dung nham trong lòng
đất trào lên, tạo thành các dãy núi ngầm giữa đại dương.
Chẳng hạn khi châu Mĩ và châu Phi rời xa nhau đã hình
thành nên Đại Tây Dương, giữa đại dương này có một dãy
núi ngầm.
Nhắc đến chuyện bao la toàn cầu như vậy mới giải
thích được sự hình thành núi non ở nước ta. Trước hết, ta
thử xem núi non nước ta có những loại hình như thế nào.
Loại thường gặp nhất ở nước ta là núi uốn nếp, như dãy
núi Hoàng Liên Sơn, dây núi Con Voi hay Trường Sơn. Các
tầng đá bị xô đẩy, vò nhàu, biến chất: đá trầm tích cát kết,
đá phiến sét vốn mềm biến thành đá quaczit, đá gnai, đá
sừng rắn chắc, đá vôi biến thành đá hoa...
Núi uốn nếp
Loại thứ hai là núi dạng khôi do các đứt gãy làm cho
tầng đá ở hai bên sụt xuống, khối đá ở giữa nâng lên, nhưng
các địa tầng vẫn giữ nguyên thế nằm ngang, không bị vò
nhàu. Loại này ít thấy ở nước ta.
Núi dạng khối - đứt gãy
Loại thứ ba là núi xâm nhập. Nguyên là bên dưới lòng
đất có lò macma dưới dạng dung dịch đặc quánh nóng
bỏng. Do một nguyên nhân nào đó, dung dịch này chui
lên vỏ Trái đất, nhưng bị các địa tầng bên trên chặn lại.
Núi xâm nhập
Chúng không thoát ra ngoài, mà nguội dần, kết tinh thành
đá. Loại đá này rất cứng, như đá granit (hoa cương), đá
pecmatit... Sau này, khi mặt đất được nâng lên, các tầng
đá trầm tích phía trên bị bào mòn, thì lõi đá macma rắn
chắc phía dưới lộ ra. Dạng núi xâm nhập này thường tạo
nên các đỉnh núi cao ở nước ta, như núi Phia Ya, Phia
Biooc, Bạch Mã...
Núi lửa
Ngoài ba dạng núi trên còn có dạng núi lửa do dung
nham trào lên trên bề mặt. Khác với đá xâm nhập kết tinh
ở dưới sâu, các dung nham núi lửa được giải phóng nhanh
chóng đông cứng lại dưới dạng tro núi lửa hay đá bazan
màu xám. Núi lửa cổ thường có hình chóp nón, ở giữa có
hồ nước vốn là miệng núi lửa xa xưa. Dạng núi này gặp ở
Tây Nguyên, nhưng thường bị bào mòn, bồi lấp nên không
mấy khi nguyên vẹn.
Trải qua những thăng trầm, va đập trong quá khứ xa
xưa như thế nên hệ thống núi non nước Việt mới mang
những dáng dấp, hình thể như ngày nay.
NÚI NON MẤY Đ ộ SINH THÀNH
Địa hình nước ta có dạng hình chữ s, phình ra ởhai đầu
Bắc Bộ và Nam Bộ, uốn cong kéo dài một dải
ởTrung Bộ.
Địa hình ấy được hình thành và phát triển qua một
chiều dài lịch sử hàng ngàn triệu năm.
Thuở xa xưa, vào thời gọi là Thái cổ cách đây 2,5 tỉ
năm, toàn bộ địa hình đất nước ta khi ấy chìm trong biển
cả. Trên đáy biển tích tụ những lớp trầm tích, chứng tích
là những đá biến chất dày có tuổi 2,3 tỉ năm lộ ra ở thượng
nguồn Sông Chảy và Kon Tum. Từ đó vỏ lục địa mỏng manh
mới bắt đầu hình thành.
Mặt đất khi được nâng lên khi bị nhấn chìm xuống,
cùng với hiện tượng khi thì biển tiến vào đất liền, khi thì
biển thoái lui ra xa tít tắp. Hai mảng lục địa Á - Âu và mảng
Ân Độ từ hai phía dịch chuyển dần lại với nhau. Đến một
lúc nào đó hai mảng này đâm sầm vào nhau làm vỏ Trái đất
đảo lộn, nâng lên sụt xuống, vò nhàu, đứt gãy, dung nham
trào lên, động đất rung chuyển, núi lửa phun ào ạt... Một
cuộc "vận động tạo núi" đã từng diễn ra như thế.
Vỏ Trái đất nước ta đã chịu tác động của một số cuộc
vận động tạo núi qua các thời kì, trong đó lần cuối cùng
xảy ra khoảng 170 triệu năm trước, có tên là Inđôxini
(tức là Vận động Đông Dương). Đó là một cuộc vận động
mang tính cục bộ, "chốt" lại những xáo động v ĩ mô đối
với nước ta.
Mảnh đất Việt từ đây đã hình thành khung sườn "lục
địa", thoát hẳn ra khỏi chế độ biển, bước vào thời kì hoạt
động "tân kiến tạo" khắc họa nên tấm bản đồ địa hình
ngày nay. Cuộc vận động đáng kể nhất trong thời kì này
tạo nên dãy núi Himalaya cao ngất khi hai mảng kiến tạo
phía đông và tây lại xô vào nhau. Vận động này làm đùn
lên dây núi trẻ Hoàng Liên Sơn có đĩnh Phan Xi Păng, được
mệnh danh là nóc nhà Đông Dương và dãy Con Voi bên
cạnh có cấu tạo đá "cổ kính". Tại ranh giới hai mảng hình
thành một địa hào dọc theo đứt gãy sông Hồng theo hướng
tây bắc - đông nam. Hai cánh đông và tây ở hai bên đứt
gãy trượt so le nhau, cánh phía đông dịch lên phía tây bắc,
cánh phía tây trượt theo chiều ngược lại, tạo ra hình thế đối
xứng nghịch.
Phía cuối địa hào là một vùng trũng được lấp đầy trầm
tích trẻ hình thành nên đồng bằng Bắc Bộ.
Từ đây, nền móng nước ta đâ được cố kết, nhưng vẫn
có từng đợt nâng lên hạ xuống "nhẹ nhàng". Mỗi đợt nâng
lên lại tạo nên một mặt bằng như cao nguyên. Tiếp đó là
thời kì yên tĩnh để "các hoạt động của Thủy Tinh" diễn ra,
tức là các dòng nước xâm thực, xói mòn tạo ra các thung
lũng, hẻm vực chia cắt mặt bằng thành những ngọn núi,
khối núi riêng biệt. Cho nên có nhà địa lí Pháp trước đây
từng nói rằng ở miền Bắc Việt Nam không có núi mà chỉ
có những thung lũng, hẻm vực chia cắt địa hình mà thôi.
Đến giai đoạn cuối này, vùng Tây Nguyên có một đợt
núi lửa phun trào khá đồ sộ tạo nên một vùng đá bazan rộng
lớn. Các vùng trũng sông Hồng, sông Cửu Long được phù sa
bồi lấp thành các châu thổ. Thảng hoặc một vài nơi có núi
lửa thoi thóp phun lên như ở Phủ Quỳ, Vĩnh Linh, Lao Bảo
vào thời kì mà địa chất học gọi là kỉ Đệ tứ - khi loài người
đã làm chủ hành tinh.
Cuối cùng, bức tranh địa hình Việt Nam thể hiện trên
bản đồ như thế này:
Nhìn lên bản đồ châu Á, ta thấy dãy Himalaya đồ sộ
như nóc nhà của thế giới. Dãy núi này giống như một con
rồng vĩ đại, đầu là cao nguyên Tây Tạng có đỉnh Everest
cao chót vót 8.848 m, thân mình uốn lượn dọc theo biên
giới phía bắc Ân Độ, ngang qua cao nguyên Vân Nam theo
hướng tây - đông, sau đó quặt xuống dãy Hoàng Liên Sơn
nơi có đỉnh Phan Xi Păng và đuôi xòe tỏa rộng ra bao quanh
đồng bằng Bắc Bộ, chẽ xuống Trường Sơn và vẫy vùng nhấp
nhô dưới vịnh Hạ Long.
Phần "đuôi rồng" tạo ra hai mạch sơn văn chính ở nước
ta: các mạch núi hình vòng cung ở Đông Bắc và các mạch
núi hướng tây bắc - đông nam ở miền Tây Bắc và Trung Bộ.
Vòm Sông Chảy được hình thành sớm nhất, nhô lên
thành vồng có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.419 m) cao nhất miền
Đông Bắc. Vòm Sông Chảy là một "hạt nhân" có các lớp
"cánh cung" ôm lấy như những cánh hoa bao quanh bầu
nhị, những nan quạt xòe ra, đỉnh tụ lại ở dãy Tam Đảo. Mỗi
cánh cung là một mạch núi ngăn cách với nhau bởi một
thung lũng.
Phía trong cùng là Cánh cung Sông Câm chạy theo
hướng đông - tây, cấu tạo bởi đá vôi và sa diệp thạch (cát
kết và đá phiến). Phía bắc của nó là sơn nguyên đá vôi
Đồng Văn - Quản Bạ.
Vùng trũng xen kẽ chuyển tiếp sang cánh cung khác
là thung lũng sông
cầu cày
xới trên nền đá sa thạch xen
diệp thạch.
Cánh cung thứ hai là Cánh cung Ngân Sơn chủ yếu là
sa diệp thạch xen một ít đá vôi. Cánh cung này nối với dãy
núi Yên Lạc, thành một cánh cung hoàn chỉnh có mặt lồi
về phía đông.
Cánh cung thứ ba - Cánh cung Bắc Sơn, chij yếu là
khối đá vôi chạy dài từ bắc Thái Nguyên tới phía tây và
nam Lạng Sơn, đã chuyển hướng tây nam - đông bắc rõ rệt.
Tại đây có dạng "địa hình đảo ngược", vì vốn dĩ là một nếp
lồi do hoạt động kiến tạo được nâng lên, nhưng đỉnh nếp
lồi lại bị bào mòn mạnh, nên trũng xuống.
Cánh cung bọc ngoài cùng là Cánh cung Đông Triều,
gồm hai dãy núi Nam Mầu và Bình Liêu kết hợp lại, ban
đầu chạy theo hướng vĩ tuyến tây - đông sát bờ biển vịnh
Bắc Bộ, rồi lùi dần về phía bắc. Cánh cung này không liên
tục, ở giữa là vùng núi thấp và bị nhiều sông suối cắt ngang
như sông Ba Chẽ, sông Phố Cũ, sông Tiên Yên...
Sự hình thành các cánh cung núi có ảnh hưởng rõ rệt
tới thời tiết, khí hậu miền này. Hằng ngày, trên chương trình
dự báo khí tượng của đài truyền hình, ta thấy nhiệt độ miền
Đông Bắc vào mùa đông thường thấp hơn miền Tây Bắc
một vài độ. Sở dĩ như vậy là do gió mùa từ phía đông bắc
hun hút thổi về qua những "miệng phễu" mở rộng, mang
cái giá rét thông thốc đột nhập vào các thung lũng nơi đây.
Tiếp theo, chúng ta sẽ đến với các dãy núi chính của
nước ta. Trước hết là các mạch núi miền Tây Bắc. Kẹp giữa
sông Hồng và sông Đà là dãy Hoàng Liên Sơn sừng sững
như nóc nhà Việt Nam và của cả Đông Dương. Đỉnh cao
nhất là Phan Xi Păng cao 3.143 m.
Do bị nén ép từ hai phía tạo nên các đứt gãy song song,
núi non miền Tây Bắc cho đến miền Bắc Trung Bộ có kết cấu
thành các dải sơn nguyên và sông suối kéo dài theo hướng
tây bắc - đông nam. Các sơn nguyên này phần lớn được
cấu tạo bởi đá vôi. Từ Sơn La xuống Mộc Châu, Hòa Bình,
Bản đồ địa hình Việt Nam
IV
20
độ cao các sơn nguyên đá vôi này cứ hạ thấp dần và chấm
dứt ở Ninh Bình.
Tây Bắc còn có một khối núi lớn nữa ở thượng nguồn
sông Mã. Dãy núi này có độ cao trung bình, hơi bè rộng
vòng sang bên nước bạn Lào và lan tỏa xuống tận xứ Thanh.
Đây chính là đường phân thủy, một bên nước đổ vào hệ
thống sông Mê Kông, một bên nước đổ xuống sông Mã.
Dây núi lớn tiếp theo mà người Việt Nam ai cũng biết
đến là dãy Trường Sơn, xuất phát từ thượng nguồn sông Cả
trên đất Lào kéo dài mãi đến Nam Trung Bộ.
Trường Sơn có nghĩa là "núi dài". Quả thật đây là dãy
núi dài nhất Đông Dương, chiều dài khoảng 1.100 km.
Các nhà địa lí chia ra thành Trường Sơn Bắc và Trường
Sơn Nam.
Trường Sơn Bắc được kể từ cao nguyên Trấn Ninh bên
Lào, gồm nhiều nếp núi song song, xếp so le kiểu cánh gà
theo hướng tây bắc - đông nam, kéo dài tới sát biển Đà
Nang. Đây là một miền núi già, bị chia cắt nhiều bởi những
con đèo, hẻm sông, với những đỉnh Phu Lai Leng, Rào
cỏ,
Ba Rền, u Bò...
Gió tây vượt qua đỉnh Trường Sơn tạo thành thứ "gió
Lào" khô nóng. Ngược lại phía sườn đông hứng mưa bão từ
Biển Đông tràn về gây lũ lụt hằng năm. Dãy Bạch Mâ lại
tạo một đường ranh giới khí hậu phía bắc và phía nam khi
ta vượt qua đèo Hải Vân.
Từ Đà Nẵng trở vào thuộc dãy Trường Sơn Nam, mạch
núi đã bắt đầu chuyển dần theo hướng bắc tây bắc - nam
đông nam, rồi chuyển thành hướng bắc - nam. Phía tây đất
nước vồng cao lên khối cao nguyên Tây Nguyên đất đỏ trên
đá bazan.
Các núi ở Nam Trung Bộ ngoặt sang hướng đông bắc tây nam, thấp dần xuống miền Đông Nam Bộ...
Hệ thống sơn văn ấy chính là "xương cốt" hình thành
nên hình dạng chữ
s của đất nước ta, uốn lượn bên
bờ Biển
Đông sóng vỗ.
NÚI CAO. NÚI THÁP VÀ CAO NGUYÊN...
Liên quan đến những khái niệm này, trước hết chúng
ta cần làm rõ: Thế nào gọi là núi? Từ điển tiếng Việt của
Viện Ngôn ngữ học (2001) giải thích: "N úi - Địa hình lồi,
sườn dốc, nổi cao lên trên mặt đất, thường cao trên 200 m".
Thấp hơn thì gọi là đồi: "Dạng địa hình lồi, có sườn thoải,
thường không cao quá 200 m".
Với các nhà địa lí, việc phân chia định loại chi tiết
hơn, thành các dạng núi cao, núi trung bình, núi thấp, sơn
nguyên, cao nguyên, đồi và bán bình nguyên.
- Núi cao phải kể từ 2.500 m trở lên. ở nước ta dạng
núi cao như thế chỉ chiếm 1% diện tích, phân bố tập trung
ở miền Tây Bắc. Các núi cao này thuộc loại "trẻ", được
nâng lên mạnh và thường cấu tạo bởi các loại đá cứng rắn
nhưgranit và xienit, nên địa hình sắc sảo, đường phân thijy
như những răng cưa, có những đỉnh nhọn hoắt. Sườn núi
rất dốc, đến 35 - 40°, ở giáp đỉnh và dưới chân có khi tới
45 - 50°. Các thung lũng thường là những hành lang hẹp,
vách đứng, cứ như những nhát xẻ. Nước chảy xiết, cuồn
cuộn trôi, xâm thực mãnh liệt.
Núi cao nhất ở nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh
Phan Xi Păng 3.143 m. Một số núi khác cũng được kể là
núi cao, như Tả Yang Pinh 3.096 m, Pu Luông 2.913 m, Pu
Lai Leng 2.711 m, Tây Côn Lĩnh 2.419 m. Các núi đó đều
ở miền Bắc. Miền Nam có đỉnh Ngọc Lĩnh cao 2.598 m, A
Tuất 2.500 m.
- Dạng núi cao trung bình cỏ đỉnh từ 1.500 đến 2.500
m, hình dáng vòm khối tảng, cấu tạo từ đá granit và đá biến
chất uốn nếp, sườn dốc 25 - 30°, thung lũng hẹp.
Có thể kể đến các đỉnh Pu Tha Ca 2.274 m, Kiều Liêu
Ti 2.403 m, Phia Ya 1.981 m, Phia oắc 1.931 m ở miền
Đông Bắc; Pu Sam Sao 1.898 m, Tà Phình 1.861 m, Pi
Phạc Me 1.809 m ở miền Tây Bắc; các ngọn Pu Lai Leng
2.711 m, Chử Yang Sin 2.405 m, Bi Đúp 2.297 m, Rào
Cỏ 2.286 m, Lang Biang 2.163 m, Vọng Phu 2.022 m, Ta
Dưng 1.892 m ở miền Nam trên dây Trường Sơn...
- Núi thấp có độ cao từ 500 đến 1.500 m. Đây là dạng
núi chiếm đa số ở miền núi nước ta, được cấu tạo bởi đủ thứ
đá từ trầm tích, biến chất đến macma. Các dây núi cánh
cung Đông Bắc hay phần lớn dãy Trường Sơn đều thuộc
dạng này. Tuy nhiên, cũng có những đỉnh núi chỉ đạt độ
cao trung bình, nhưng so với xung quanh lại là núi cao, như
núi Mẩu Sơn 1.541 m, đỉnh Tản Viên 1.281 m...
- Cao nguyên là những vùng cao có bề mặt tương đối
bằng phẳng, cao thấp chênh nhau không quá 25 m. ở nước
ta chỉ có vùng Tây Nguyên có lớp bazan phủ tràn đều trên
nền đá cổ tạo thành bề mặt lượn sóng nhấp nhô có thể coi
là cao nguyên.
Một số nơi quen gọi là cao nguyên như "cao nguyên
đá" Đồng Văn, cao nguyên Bắc Hà - Mường Khương, cao
nguyên Sơn La... được cấu tạo bởi đá vôi, tuy cũng có những
đỉnh cao sàn sàn nhau, nhưng đã bị xâm thực chia cắt
thành các thung đôi khi rất sâu, chỉ nên gọi là sơn nguyên.
- Đồi có độ cao tương đối (tính từ chân tới đỉnh) từ 25
đến 200 m, độ cao tuyệt đối so với mặt biển dưới 500 m. ở
nước ta, vùng đồi rộng lớn nhất là vùng Đông Bắc từ cánh
cung Ngân Sơn đến sát đồng bằng, mà ta quen gọi là miền
trung du. Sông suối víjng đồi vẫn có sức xâm thực vào đất
Các dạng núi đồi
đá, nhưng dòng chảy đã yếu đi, tạo nên những bậc thềm và
bâi bồi trong các thung lũng bên sông.
Do quá trình phong hóa, trên bề mặt vùng đồi hình
thành một loại "đá" đặc biệt là đá ong. Đá ong khi nằm
dưới đất còn mềm có thể dùng mai, xẻng xắn thành từng
tảng vuông vắn, khi phơi lên mặt đất trở nên rắn chắc,
dùng để làm nhà, xây tường chắn quanh sân vườn...
Diện tích các đồi tương đương với diện tích núi. Do sự
xâm thực của sông, suối trong suốt quá trình hình thành,
các đồi tạo thành những bậc thềm tương đối có cùng độ
cao. Nếu như các vùng núi còn hoang sơ thì các vùng đồi
hầu như đã được con người khai thác, quần tụ thành làng
mạc, khu dân cư, đất trồng trọt; rừng nguyên sinh đã được
thay thế bằng rừng thứ sinh hay rừng trồng cây thuần chủng
dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp.
Chúng ta hãy tưởng tượng, châu thổ Sông Hồng như
một sân bóng khổng lồ của những người khổng lồ, thì những
bậc thềm sông và các mặt bằng núi non bao quanh chẳng
khác nào những bậc ghế từ thấp lên cao quanh sân vận
động dành cho những khán giả khổng lồ vậy.
Vùng đồng bằng Bắc Bộ hầu như tỉnh nào cũng có
những đồi thấp, trừ hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên.
Đôi khi các địa hình nhô lên ở đồng bằng chỉ là đồi
nếu theo đúng "tiêu chuẩn", nhưng do có độ cao tương đối
so với xung quanh nên vẫn được gọi là "núi", như núi Phật
Tích, núi Côn Sơn...
- Cacxtơ: Nước ta có nhiều khối đá vôi rộng lớn tạo
nên các dạng địa hình cacxtơ độc đáo, những đỉnh núi dốc
đứng trơ trụi, những thung lũng, những cánh đồng cacxtơ,
những hang động kì thú. Ta sẽ dành hẳn một mục riêng để
nói về loại địa hình đặc biệt này.
NGUỒN CỦA CHÌM GIẤU TRONG LÒNG ĐẤT
Tại sao có mỏ quý trong lòng đất? Đó cũng là những bí
ẩn mà bao thế hệ các nhà khoa học trên thế giới tìm cách
khám phá.
Trước tiên nói về loại mỏ sinh ra từ bên trong lòng
đất, gọi là "mỏ nội sinh", ở bên dưới vỏ Trái đất có các lò
macma nóng chảy chẳng khác gì lò luyện đan của Thái
Thượng Lão Quân trong thần thoại. Cái mớ hổ lốn nóng
bỏng bị nén chặt ấy chứa đủ thứ nguyên tố. Một khi vỏ Trái
đất bên trên bị xô đẩy, xuất hiện các khe nứt, thì những
dòng dung nham lập tức có cơ hội xuyên lên. Nhiều trường
hợp nó chưa tới được mặt đất mà chỉ xuyên đến một mức
nào đó thì đã nguội lạnh đi, tạo thành các khối đá xâm
nhập, như đá granit (hoa cương), đá xienit. Giữa khối đá,
các khoáng vật được kết tinh thành tinh thể như thạch anh,
íenspat, mica, nhưng chúng vẫn chỉ là khoáng vật tạo đá
nằm sít sịt nhau, ít thành mỏ quặng. Trong khi ở phần bên
rìa, quá trình hạ nhiệt dần dần theo từng giai đoạn đã tạo
điều kiện cho những tinh thể kết tinh thành các loại quặng
khác nhau, như quặng thiếc, chì, kẽm, hay kim loại tự sinh
^26
như vàng. (Vàng gốc không cần kết hợp với nguyên tố khác
được gọi là vàng tự sinh). Macma còn có thể len lỏi theo
các khe nứt đi lên phía trên, tạo ra các mỏ cách xa khối đá
xâm nhập chính.
Trường hợp dòng dung nham xuyên thủng được lên bề
mặt sẽ tạo nên núi lửa. Tro núi lửa phun lên cao tích tụ lại
thành loại đá túp, xốp nhẹ. Dung nham núi lửa nguội lạnh
tạo thành các khối đá bazan, thường có cấu tạo dạng cột.
Đá bazan sau này bị phong hóa thành quặng bauxit. Dung
nham đọng lại trong họng núi lửa tạo thành một loại đá đặc
biệt gọi là kimbeclit; những viên kim cương lấp lánh chính
là được hình thành trong các đá họng núi lửa này.
Dù cứng rắn như thế nào, trải qua năm tháng dưới
nắng nung, nước xói, đá cũng phải rã rời, vỡ ra thành hòn,
thành cuội, thành cát. Những vật liệu bở rời này trôi theo
dòng nước tích tụ lại thành các tầng, các vỉa, nhưng do
nặng nhẹ khác nhau, được sàng sê thành các vỉa quặng
dạng cát. Các mỏ vàng, mỏ thiếc, mỏ titan sa khoáng... đã
được hình thành như vậy.
Người ta gọi các mỏ trầm tích sinh ra trên bề mặt đất
như thế là mỏ ngoại sinh. Mỏ than cũng là mỏ ngoại sinh,
nhưng không phải do tích tụ của đá vụn, mà do những cánh
rừng thời xa xưa bị vùi lấp dưới nước, bị nén ép, cháy ngầm
hóa thành các vỉa than. Khi còn "non" là than bùn, than
nâu, than lửa dài; khi "già", thành than mỡ, than đá, than
antraxit...
Sự hình thành của các mỏ dầu là do trầm tích động
vật, tảo biển và vi sinh vật bị phân hủy dưới sâu biến thành
chất lỏng sền sệt hoặc khí đốt. Chất lỏng này nhẹ hơn nên
len lỏi qua các lỗ hổng chui lên, trên đường đi bị chặn lại
bởi các "bẫy" - những vòm đá chắn phía trên - tụ lại thành
Khai thác mỏ
mỏ dầu. Tuy nhiên, đây chỉ là một giả thuyết. Nguyên nhân
của sự tạo thành dầu mỏ vẫn còn nhiều bí ẩn. Hiện nay
người ta đâ phát hiện dầu mỏ không chỉ nằm trong các tầng
đá trầm tích mà còn trong các đá nền móng xâm nhập bên
dưới, nghĩa là dầu mỏ cũng có thể tạo ra từ sự kết hợp các
nguyên tố trong lò macma!
Điều kiện địa chất nước ta rất thuận lợi cho việc sinh
thành các mỏ. Do những vận động tạo núi, vỏ Trái đất nước
ta bị xô đẩy, uốn nếp, đứt gây, vỡ vụn, tạo điều kiện cho các
lò macma dâng lên đem theo nhiều khoáng sản kết đọng
lại thành mỏ.
Mỏ sắt Thái Nguyên đã được khai thác và xây dựng
thành Khu gang thép từ hơn nửa thế kỉ trước. Nhưng những
mỏ tìm thấy sau này có trữ lượng còn lớn hơn rất nhiều, như
mỏ Quý Xa (Yên Bái), mỏ Tòng Bá (Hà Giang). Lớn nhất là
mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh). Ngoài ra, ở Cao Bằng, Thanh
Hóa, Quảng Ngãi... cũng có những mỏ sắt nhỏ.
Mỏ cromit
cổ Định
(Thanh Hóa) có nguồn gốc sinh
thành là khối đá xâm nhập periđotit Núi Nưa. Mỏ này đã
được người Pháp phát hiện và khai thác từ năm 1927. Từ
khoáng vật cromit, người ta lấy ra được crom rất cần thiết
trong công nghiệp chế tạo các hợp kim, thép không gỉ và
mạ kim loại.
Mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) là mỏ thiếc duy nhất được
người Pháp biết đến và khai thác từ năm 1903 để chuyển
về chính quốc. Quặng thiếc có nguồn gốc từ khối đá granit
Phia Oăc, bị bào mòn phá hủy thành các hạt trầm tích sa
khoáng trong thung lũng sông. Ngày nay đã tìm được thêm
nhiều mỏ thiếc ở Tam Đảo, Sơn Dương (Tuyên Quang), Quỳ
Châu (Nghệ An) và Thường Xuân (Thanh Hóa).
Bauxit là quặng dùng để luyện nhôm, một kim loại
mang tính chiến lược. Mỏ bauxit của nước ta nằm rải rác
trên các khu vực đá vôi tuổi Pecmi*'*, như ở Lạng Sơn, Tuyên
Quang, Lai Châu, Sơn La, kể cả ở Hải Dương. Tuy nhiên,
chỉ mỏ bauxit phong hóa trên đá bazan ở Tây Nguyên mới
được xếp vào một trong năm khu vực có trữ lượng bauxit
lớn nhất thế giới.
Đất hiếm là tên gọi chung của một nhóm kim loại có
tính chất hết sức đặc biệt và không thể thiếu được đối với
các ngành công nghệ cao, chiếm tỉ lệ rất nhỏ trên vỏ Trái
đất. Đất hiếm thường rất phân tán, ít khi tập trung thành
mỏ quặng. Như...
 





