Bài ca thư viện

Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Văn hóa đọc trong thời đại số

    Ảnh ngẫu nhiên

    Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat.png He_tieu_hoa_o_nguoi.png BANG_TUAN_HOAN_CAC_NGUYEN_TO_HOA_HOC.png Bandohoabinh.jpg Image1.jpg Th.jpg Upload_2022616_161555.png 8ed039ea20bf560ca184d28e5256c73e.jpg 46ca8f480c05e55bbc14.jpg Z5579161166251_1260d4c8070451d9056834fa2a35c61e.jpg Z5577753222982_6026ada42142d1e8380112e8dfa0a3be.jpg Z5577753391471_f4b7f60286c4b97e3e2134cfab791914.jpg

    opac tra cứu - tv quốc gia Việt Nam

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC LƯƠNG - YÊN THỦY - HÒA BÌNH💕💕

    Ý nghiã chiến thắng 30/4

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Thiên Nhiên Đất Nước Ta - Kì Vĩ Núi Đèo

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 16h:20' 09-03-2024
    Dung lượng: 20.8 MB
    Số lượt tải: 12
    Số lượt thích: 0 người
    NGUYỄN NHƯMAI, NGUYỄN HUYTHẤNG
    NGUYỄN QUỐC TÍN

    THIÊN NHIÊN ĐẤT N ư ớ c TA

    KÌ VĨ NÚI ĐÈO

    NHÀ XUẤT BẢN KIM ĐỔNG

    Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
    Nguyễn Như Mai
    Kì vĩ núi đèo / Nguyên Như Mai, Nguyên Huy Thắng, Nguyên Quốc Tín. - H .: Kim
    Đóng, 2015. - 250tr.: hình v ẽ ; 21 cm. - (Thiên nhiên đất nước ta)
    ISBN 9786042058056
    1. Núi 2. Đổi 3. Việt Nam 4. Sách thiếu nhi
    915.970943-dc23
    KDM0327p-CIP

    Thiên nhiên đất nước ta - Kì vĩ núi đèo
    © Nguyễn Như Mai, Nguyên Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín
    Xuất bản theo Hợp đổng sử dụng tác phẩm
    giữa nhóm Tác giả và Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015
    Bản quyén hình ảnh bìa, minh họa thuộc vé Nhà xuất bản Kim Đổng, 2015

    Vẽ bìa và minh họa: Nguyễn Doãn Som
    Trình bày bìa: Tô Hổng Thủy

    LỜI NÓI ĐẦU
    N o n ' Sông, Đất - Nước, Gmng - Sơn' tổ hợp hai từ ấy, hai
    yếu tố ấy tạo nên một từ thiêng liêng: T ổ quốc.
    T ổ quốc không chỉ là khái niệm chung chung, mơ hồ, mà
    chính là sông là núi, là mảnh đất tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên,
    đã dùng sức lao động để tô điểm và dùng máu xương để bảo vệ.
    Càng hiểu và bịết về thiên nhiên đất nước, ta càng thêm yêu,
    thêm tự hào về T ổ quốc. Để có sự hiểu biết về non nước mình,
    chúng ta phải học trong nhà trường, đọc trong sách báo và trải
    nghiệm trong thực tế. Đồng thời, lại phải có ý thức thường xuyên
    bồi bổ các kiến thức về địa lí, về thiên nhiên rất cần thiết cho mỗi
    con người trong cuộc sống và cả trong công việc sau này. Bạn cần
    biết về cương vực, lãnh thổ đất nước khi muốn đi vào nghiệp văn
    chương, sử học, ngoại giao. Bạn cần thông thuộc địa hình, địa mạo
    khi làm quy hoạch hay kiến trúc. Bạn càng cần nắm rõ về sông,
    núi, biển, rừng của T ổ quốc nếu bạn làm nông nghiệp, khai thác
    tài nguyên hay thương m ại... Khỏi phải nói, trong cuộc sống hằng
    ngày, những kiến thức ấy giúp ích thế nào khi bạn đi du lịch khám
    phá; sự hiểu biết sẽ làm cho bạn có ấn tượng sâu sắc hơn và thu
    lượm được nhiều điều bổ ích hơn sau mỗi chuyến đi...

    Bộ sách về thiên nhiên đất nước Việt Nam mà chúng tôi giới
    thiệu với bạn đọc, đặc biệt với các bạn trẻ, chính là nhằm đem đến
    những kiến thức bổ trợ giúp tăng cường vốn hiểu biết về địa lí của
    bạn, và ' điều này mới là mục đích chính của bộ sách ' nhằm khơi
    gợi tình yêu của mỗi người chúng ta đối với non sông đất nước
    mình, bắt đầu từ ý thức tìm hiểu và nhận biết rõ về sông, núi quê
    hương, biển, rừng Tổ quốc. Trước mắt, bộ sách sẽ bao gồm bốn
    cuốn về núi non, sông ngòi, rừng và biển.
    Mặc dù nhóm biên soạn đã cố gắng sưu tầm tư liệu, cập nhật
    những thông tin mới và viết sao cho thấu đáo, dễ hiểu, dễ tiếp
    nhận, song chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong
    bạn đọc góp ý bổ khuyết cho bộ sách. Xin chân thành cám ơn!

    NHÓM BIÊN SOẠN

    Các tác giả xin được đặc biệt cám ơn PGS.
    TS địa chất Tạ Hòa Phương đã đóng góp nhiều ý
    kiến quý báu, đồng thời cho phép sử dụng một
    số tư liệu hình ảnh trong quá trình biên soạn
    cuốn sách này.

    GIẢI MẢ BÍ ẨN CỦÀ NÚI
    T ừ CÁI THUỞ BAN

    T

    sơ NGƯỜI VIỆT...

    ruyền thuyết kể rằng, Lạc Long Quân là con vua
    Kinh Dương Vương, nhân đi du ngoạn trên hồ Động

    Đình mà gặp tiên nữ Âu Cơ, bèn cùng nhau kết duyên. Họ
    sinh ra một trăm con trai. Sau đó, vì kẻ nòi rồng, người chốn
    tiên, họ chia tay nhau. Năm mươi con theo cha xuống biển;
    năm mươi con theo mẹ lên núi. Người con trưởng theo mẹ
    Âu Cơ được lên làm vua, gọi là vua Hùng thứ nhất, lập kinh
    đô Văn Lang ở miền núi Phong Châu, Phú Thọ...
    Truyền thuyết là những trang sử truyền miệng, chứa
    đựng nhiều huyền thoại, nhưng cũng mang trong mình các
    hồi quang của lịch sử. Như ta vẫn nói, cách đây khoảng
    bốn ngàn năm, trên đất nước ta đã hình thành một dạng
    nhà nước sơ khai gọi là thời kì các vua Hùng. Như vậy, nước
    Việt kể như được "lập quốc" ở miền đồi núi, sau đó mới tiến
    xuống đồng bằng.

    Nhưng trước đó thì sao? Các nghiên cứu khảo cổ học
    cho thấy, trên dải đất Việt từ rất xa xưa đã có những con
    người cổ sơ vừa thoát thai ra khỏi loài vượn người. Những
    "cư dân" đầu tiên ấy đã có mặt cả ở miền Bắc lẫn miền
    Nam. D ĩ nhiên, họ chưa biết làm nhà, phải sống trong các
    hang núi. Và họ đã để lại trong hang động những di tích
    cho đời sau. Tại các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng
    Sơn), người ta đã tìm thấy những chiếc răng hóa thạch của
    một phụ nữ trưởng thành và của một em bé khoảng chín
    tuổi, ở vùng Núi Đọ (Thanh Hóa), tuy không tìm thấy xương
    cốt hóa thạch của người xưa, nhưng còn đó những công cụ
    đá thô sơ của người vượn cổ. Trong khi đó tại Xuân Lộc và
    Dầu Giây (Đồng Nai), người ta cũng tìm thấy những công
    cụ đẽo gọt bằng đá trên những ngọn đồi đá bazan...
    Cả ba nhóm người này sống cách đây chừng 400 đến
    200 ngàn năm, họ "ăn lông ở lỗ" trong các hang núi để
    tránh mưa gió và thú dữ.
    Những cư dân muộn hơn cũng để lại dấu vết hóa thạch
    trong các hang động nhưở Kéo Lèng (Lạng Sơn), Thung Lang
    (Ninh Bình), Nậm Tun (Lai Châu), Thần Sa (Thái Nguyên)...
    Họ ngủ trong hang, đi săn bắt muông thú đem về nướng
    trên bếp lửa, khi chết cũng được chôn cất trong hang.
    Phải đến chừng 30-20 ngàn năm trước, các cư dân
    mới mở rộng địa bàn khắp các vùng Bắc Việt Nam, từ
    Thái Nguyên, Lào Cai, Tây Bắc cho đến Bắc Trung Bộ.
    Các nhà khảo cổ học đặt tên cho họ là cư dân văn hóa

    Ngườm và cư dân văn hóa Sơn Vi. Ngưởm là tên gọi theo
    tiếng Tày, có nghĩa là Hang, vì di tích tìm thấy dưới mái
    hang Ngườm. Những cư dân này vẫn tiếp tục cuộc sống
    hoang dã gắn với núi rừng, bắt muông thú và hái lượm
    thức ăn trong thiên nhiên.
    Thế rồi, vào khoảng 12.000 đến 11.000 năm trước,
    những cư dân trồng trọt đầu tiên bắt đầu xuất hiện. Nổi
    tiếng với tên gọi "cư dân văn hóa Hòa Bình", họ không
    chỉ săn bắt, hái lượm, mà còn biết mò cua ốc, bắt cá và
    trồng những cây lương thực đầu tiên. Họ sống quần tụ
    thành những cụm dân cư tập trung ở các thung lũng đá
    vôi cacxtơ vùng Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Quảng Ninh,
    Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình... Nơi cư trú
    của họ là gần các cửa hang hoặc dưới mái đá, nơi có không
    khí thoáng mát, nhiều ánh sáng và ở độ cao phổ biến từ 0,5
    m đến 20 m so với mặt thung lũng.
    Những chứng tích về thời tiền sử ấy được biết đến nhờ
    các nhà khảo cổ học. Đến thời đại Hùng Vương thì bắt
    đầu có tên gọi và được nhắc đến trong sử sách. Sách Lĩnh
    Nam chích quái chép về cuộc sống thời Hồng Bàng như
    sau: "H ồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây
    làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy nước cốt gạo làm rượu,
    lây cây quang lang, cây bung làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba
    ba làm mắm, lây rễ gừng làm muối, phát nương, làm rẫy...
    Lúc ấy dân sống ở rừng và chân núi, xuống nước đánh cá
    thường bị giao long hại..."

    Thời kì ở hang chấm dứt, người dân đã biết làm nhà
    sàn để ở. Các điểm dân cư được quy tụ trên những đỉnh gò,
    sườn đồi, chân núi và doi đất, vừa cao ráo vừa dễ phòng
    thủ. "Kinh đô" nơi các vua, quan lang ở cũng nằm trên sườn
    núi xung quanh vùng Gò Mun, Phong Châu, Phú Thọ. Sau
    đó mới tiến dần xuống đồng bằng tạo dựng nên một nền
    văn minh lúa nước.
    Cuộc sống gắn liền với núi non, rừng rú nên ngày xưa
    người ta luôn tôn thờ những hiện tượng thiên nhiên, như
    sấm chớp, lũ lụt..., coi như thần thánh. Một trong những vị
    thần được tôn thờ là Thần Núi hay Sơn Thần.
    Truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh kể rằng, vào đời vua
    Hùng thứ 18, nhà vua có nàng công chúa Mị Nương xinh
    đẹp. Vua truyền tin kén rể hiền tài khắp cõi. Thủy Tinh và
    Sơn Tinh cùng đến ra mắt. Vua Hùng không biết chọn ai,
    bèn ra "đề thi" ai đem lễ vật đến trước thì được vua gả con
    gái cho. Hình như nhà vua có ý thiên lệch, toàn đòi những
    voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, đều là sản
    vật của núi rừng. Nhờ vậy, Sơn Tinh đã "trúng cách" và
    được đón Mị Nương về núi. Thủy Tinh tức giận, dâng cao
    nước, đem đoàn quân thủy quái cua cá, thuồng luồng lên
    đánh Sơn Tinh. Nhưng nước dâng đến đâu, Sơn Tinh dùng
    phép thần thông cho núi mọc cao lên đến đó.
    Sơn Tinh được dân thờ như một vị thần trong Tứ bất tử.
    Cùng với Sơn Tinh, nhân dân nhiều nơi còn lập cả miếu thờ
    các vị sơn thần khác là Cao Sơn và Quý Minh.

    Giờ chúng ta cùng xem thực hư
    chuyện núi non mọc lên như thế nào
    nhé.
    NÚI MỌC LÊN T ừ ĐÂU?
    Núi kia ai đắp mà cao
    Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu ỉ
    Từ thuở xa xưa, con người luôn tìm
    hiểu nguồn gốc các hiện tượng thiên
    nhiên, như sấm chớp, núi non, sông
    ngòi, loài vật, cây cối... Họ đặt ra
    những câu hỏi như trong câu ca
    dao trên. Nhưng thật khó mà
    tìm ra lời giải. Đành quy hết

    cho Trời, cho các vị thần. Đó là các vị khổng lồ tạo nên tất
    tật mọi thứ:
    Ông Đếm cá t/Ô n g Tát b ể
    Ông K ể sao / ông Đào sông
    Ông Trồng c â y / ô n g Xây núi
    Ông Túi trời / ông Cời cua
    Ông Lùa chim / ông Tìm sâu
    Ông Xâu cá...
    Nhiều hiện tượng thiên nhiên đã được khoa học giải
    thích từ lâu. Riêng về nguyên nhân tạo ra núi non như thế
    nào, các nhà khoa học địa chất đã phải trải qua nhiều thế
    kỉ mới đưa ra được những học thuyết đáng tin cậy.
    Năm 1912, nhà địa vật lí người Đức Alíred VVegener
    nhận ra một điều: Bờ biển châu Phi và Nam M ĩ có sự tương
    đồng đến khó tin. Nếu đem ghép vào nhau thì hầu như
    trùng khớp, giống hai miếng ghép của trò chơi ghép hình
    vậy. VVegener đã đưa ra giả thuyết "lục địa trôi giạt", ông
    cho rằng, các lục địa trên Trái đất trước kia không phải
    giống như hiện tại, mà là một khối chung, sau đó mới tách
    rời nhau ra. Để củng cố cho giả thuyết của mình, VVegener
    còn chỉ ra sự giống nhau của các hóa thạch trong lòng đất
    ở hai bên bờ đại dương, như một loài bò sát sống cách đây
    240 triệu năm. Chắc chắn chúng không thể bơi qua cả một
    đại dương mênh mông như vậy được, mà chúng đã bị chia
    tách khi các mảng tách khỏi nhau.
    Giả thuyết của VVegener ban đầu bị cho là "ngây thơ",

    không được thừa nhận. Mãi đến nửa sau thế kỉ 20, ý tưởng
    của ông mới được các nhà địa chất hoàn chỉnh, xây dựng
    thành "Học thuyết kiến tạo mảng".
    Theo học thuyết này, vỏ Trái đất không phải là một
    lớp vỏ liền mạch như vỏ trứng, mà đã bị giập vỡ thành các
    mảnh gắn liền nhau. Các mảnh này được gọi là các mảng
    lục địa (dày) và mảng đại dương (mỏng), trôi giạt trên một
    quyển mềm của lớp manti (lớp đặc quánh và nóng bỏng
    bên dưới vỏ Trái đất). "Trôi giạt" là cách nói hình tượng
    thôi, chứ thực tế hiện tượng địa chất này không diễn ra
    nhanh chóng như những bè mảng trôi trên sông, mà chỉ
    nhích từng tí, từng tí một, kéo dài suốt hàng chục, hàng
    trăm triệu năm và nay vẫn tiếp diễn.
    Người ta đã dựng lại được bản đồ các lục địa trên Trái
    đất qua các thời kì khác nhau. Tạm phác họa như sau:
    Vào khoảng 200 triệu năm trước, tất cả kết thành một
    khối gọi là Toàn Lục Địa (Pangea).
    Đến khoảng 130 triệu năm trước, châu Phi và Bắc Mĩ
    tách ra; Ân Độ tiến sát gần mảng Á - Âu.
    Khoảng 10 triệu năm trước, Nam Cực và châu ú c tách
    khỏi châu Á. Bắc Mĩ và châu Âu rời xa nhau...
    Khi các mảng chuyển dịch đâm vào nhau, sẽ có mảng
    xô lên thành núi cao, có mảng chúi xuống bên dưới tạo
    thành các đới hút chìm.
    Khi các mảng tách rời nhau thì sẽ thành đại dương;

    ở giữa chỗ tách giãn bị vỡ ra, dòng dung nham trong lòng
    đất trào lên, tạo thành các dãy núi ngầm giữa đại dương.
    Chẳng hạn khi châu Mĩ và châu Phi rời xa nhau đã hình
    thành nên Đại Tây Dương, giữa đại dương này có một dãy
    núi ngầm.
    Nhắc đến chuyện bao la toàn cầu như vậy mới giải
    thích được sự hình thành núi non ở nước ta. Trước hết, ta
    thử xem núi non nước ta có những loại hình như thế nào.
    Loại thường gặp nhất ở nước ta là núi uốn nếp, như dãy
    núi Hoàng Liên Sơn, dây núi Con Voi hay Trường Sơn. Các
    tầng đá bị xô đẩy, vò nhàu, biến chất: đá trầm tích cát kết,
    đá phiến sét vốn mềm biến thành đá quaczit, đá gnai, đá
    sừng rắn chắc, đá vôi biến thành đá hoa...

    Núi uốn nếp

    Loại thứ hai là núi dạng khôi do các đứt gãy làm cho
    tầng đá ở hai bên sụt xuống, khối đá ở giữa nâng lên, nhưng
    các địa tầng vẫn giữ nguyên thế nằm ngang, không bị vò
    nhàu. Loại này ít thấy ở nước ta.

    Núi dạng khối - đứt gãy

    Loại thứ ba là núi xâm nhập. Nguyên là bên dưới lòng
    đất có lò macma dưới dạng dung dịch đặc quánh nóng
    bỏng. Do một nguyên nhân nào đó, dung dịch này chui
    lên vỏ Trái đất, nhưng bị các địa tầng bên trên chặn lại.

    Núi xâm nhập

    Chúng không thoát ra ngoài, mà nguội dần, kết tinh thành
    đá. Loại đá này rất cứng, như đá granit (hoa cương), đá
    pecmatit... Sau này, khi mặt đất được nâng lên, các tầng
    đá trầm tích phía trên bị bào mòn, thì lõi đá macma rắn
    chắc phía dưới lộ ra. Dạng núi xâm nhập này thường tạo
    nên các đỉnh núi cao ở nước ta, như núi Phia Ya, Phia
    Biooc, Bạch Mã...

    Núi lửa

    Ngoài ba dạng núi trên còn có dạng núi lửa do dung
    nham trào lên trên bề mặt. Khác với đá xâm nhập kết tinh
    ở dưới sâu, các dung nham núi lửa được giải phóng nhanh

    chóng đông cứng lại dưới dạng tro núi lửa hay đá bazan
    màu xám. Núi lửa cổ thường có hình chóp nón, ở giữa có
    hồ nước vốn là miệng núi lửa xa xưa. Dạng núi này gặp ở
    Tây Nguyên, nhưng thường bị bào mòn, bồi lấp nên không
    mấy khi nguyên vẹn.
    Trải qua những thăng trầm, va đập trong quá khứ xa
    xưa như thế nên hệ thống núi non nước Việt mới mang
    những dáng dấp, hình thể như ngày nay.
    NÚI NON MẤY Đ ộ SINH THÀNH
    Địa hình nước ta có dạng hình chữ s, phình ra ởhai đầu
    Bắc Bộ và Nam Bộ, uốn cong kéo dài một dải

    ởTrung Bộ.

    Địa hình ấy được hình thành và phát triển qua một
    chiều dài lịch sử hàng ngàn triệu năm.
    Thuở xa xưa, vào thời gọi là Thái cổ cách đây 2,5 tỉ
    năm, toàn bộ địa hình đất nước ta khi ấy chìm trong biển
    cả. Trên đáy biển tích tụ những lớp trầm tích, chứng tích
    là những đá biến chất dày có tuổi 2,3 tỉ năm lộ ra ở thượng
    nguồn Sông Chảy và Kon Tum. Từ đó vỏ lục địa mỏng manh
    mới bắt đầu hình thành.
    Mặt đất khi được nâng lên khi bị nhấn chìm xuống,
    cùng với hiện tượng khi thì biển tiến vào đất liền, khi thì
    biển thoái lui ra xa tít tắp. Hai mảng lục địa Á - Âu và mảng
    Ân Độ từ hai phía dịch chuyển dần lại với nhau. Đến một
    lúc nào đó hai mảng này đâm sầm vào nhau làm vỏ Trái đất
    đảo lộn, nâng lên sụt xuống, vò nhàu, đứt gãy, dung nham

    trào lên, động đất rung chuyển, núi lửa phun ào ạt... Một
    cuộc "vận động tạo núi" đã từng diễn ra như thế.
    Vỏ Trái đất nước ta đã chịu tác động của một số cuộc
    vận động tạo núi qua các thời kì, trong đó lần cuối cùng
    xảy ra khoảng 170 triệu năm trước, có tên là Inđôxini
    (tức là Vận động Đông Dương). Đó là một cuộc vận động
    mang tính cục bộ, "chốt" lại những xáo động v ĩ mô đối
    với nước ta.
    Mảnh đất Việt từ đây đã hình thành khung sườn "lục
    địa", thoát hẳn ra khỏi chế độ biển, bước vào thời kì hoạt
    động "tân kiến tạo" khắc họa nên tấm bản đồ địa hình
    ngày nay. Cuộc vận động đáng kể nhất trong thời kì này
    tạo nên dãy núi Himalaya cao ngất khi hai mảng kiến tạo
    phía đông và tây lại xô vào nhau. Vận động này làm đùn
    lên dây núi trẻ Hoàng Liên Sơn có đĩnh Phan Xi Păng, được
    mệnh danh là nóc nhà Đông Dương và dãy Con Voi bên
    cạnh có cấu tạo đá "cổ kính". Tại ranh giới hai mảng hình
    thành một địa hào dọc theo đứt gãy sông Hồng theo hướng
    tây bắc - đông nam. Hai cánh đông và tây ở hai bên đứt
    gãy trượt so le nhau, cánh phía đông dịch lên phía tây bắc,
    cánh phía tây trượt theo chiều ngược lại, tạo ra hình thế đối
    xứng nghịch.
    Phía cuối địa hào là một vùng trũng được lấp đầy trầm
    tích trẻ hình thành nên đồng bằng Bắc Bộ.
    Từ đây, nền móng nước ta đâ được cố kết, nhưng vẫn
    có từng đợt nâng lên hạ xuống "nhẹ nhàng". Mỗi đợt nâng

    lên lại tạo nên một mặt bằng như cao nguyên. Tiếp đó là
    thời kì yên tĩnh để "các hoạt động của Thủy Tinh" diễn ra,
    tức là các dòng nước xâm thực, xói mòn tạo ra các thung
    lũng, hẻm vực chia cắt mặt bằng thành những ngọn núi,
    khối núi riêng biệt. Cho nên có nhà địa lí Pháp trước đây
    từng nói rằng ở miền Bắc Việt Nam không có núi mà chỉ
    có những thung lũng, hẻm vực chia cắt địa hình mà thôi.
    Đến giai đoạn cuối này, vùng Tây Nguyên có một đợt
    núi lửa phun trào khá đồ sộ tạo nên một vùng đá bazan rộng
    lớn. Các vùng trũng sông Hồng, sông Cửu Long được phù sa
    bồi lấp thành các châu thổ. Thảng hoặc một vài nơi có núi
    lửa thoi thóp phun lên như ở Phủ Quỳ, Vĩnh Linh, Lao Bảo
    vào thời kì mà địa chất học gọi là kỉ Đệ tứ - khi loài người
    đã làm chủ hành tinh.
    Cuối cùng, bức tranh địa hình Việt Nam thể hiện trên
    bản đồ như thế này:
    Nhìn lên bản đồ châu Á, ta thấy dãy Himalaya đồ sộ
    như nóc nhà của thế giới. Dãy núi này giống như một con
    rồng vĩ đại, đầu là cao nguyên Tây Tạng có đỉnh Everest
    cao chót vót 8.848 m, thân mình uốn lượn dọc theo biên
    giới phía bắc Ân Độ, ngang qua cao nguyên Vân Nam theo
    hướng tây - đông, sau đó quặt xuống dãy Hoàng Liên Sơn
    nơi có đỉnh Phan Xi Păng và đuôi xòe tỏa rộng ra bao quanh
    đồng bằng Bắc Bộ, chẽ xuống Trường Sơn và vẫy vùng nhấp
    nhô dưới vịnh Hạ Long.
    Phần "đuôi rồng" tạo ra hai mạch sơn văn chính ở nước

    ta: các mạch núi hình vòng cung ở Đông Bắc và các mạch
    núi hướng tây bắc - đông nam ở miền Tây Bắc và Trung Bộ.
    Vòm Sông Chảy được hình thành sớm nhất, nhô lên
    thành vồng có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.419 m) cao nhất miền
    Đông Bắc. Vòm Sông Chảy là một "hạt nhân" có các lớp
    "cánh cung" ôm lấy như những cánh hoa bao quanh bầu
    nhị, những nan quạt xòe ra, đỉnh tụ lại ở dãy Tam Đảo. Mỗi
    cánh cung là một mạch núi ngăn cách với nhau bởi một
    thung lũng.
    Phía trong cùng là Cánh cung Sông Câm chạy theo
    hướng đông - tây, cấu tạo bởi đá vôi và sa diệp thạch (cát
    kết và đá phiến). Phía bắc của nó là sơn nguyên đá vôi
    Đồng Văn - Quản Bạ.
    Vùng trũng xen kẽ chuyển tiếp sang cánh cung khác
    là thung lũng sông

    cầu cày

    xới trên nền đá sa thạch xen

    diệp thạch.
    Cánh cung thứ hai là Cánh cung Ngân Sơn chủ yếu là
    sa diệp thạch xen một ít đá vôi. Cánh cung này nối với dãy
    núi Yên Lạc, thành một cánh cung hoàn chỉnh có mặt lồi
    về phía đông.
    Cánh cung thứ ba - Cánh cung Bắc Sơn, chij yếu là
    khối đá vôi chạy dài từ bắc Thái Nguyên tới phía tây và
    nam Lạng Sơn, đã chuyển hướng tây nam - đông bắc rõ rệt.
    Tại đây có dạng "địa hình đảo ngược", vì vốn dĩ là một nếp
    lồi do hoạt động kiến tạo được nâng lên, nhưng đỉnh nếp
    lồi lại bị bào mòn mạnh, nên trũng xuống.

    Cánh cung bọc ngoài cùng là Cánh cung Đông Triều,
    gồm hai dãy núi Nam Mầu và Bình Liêu kết hợp lại, ban
    đầu chạy theo hướng vĩ tuyến tây - đông sát bờ biển vịnh
    Bắc Bộ, rồi lùi dần về phía bắc. Cánh cung này không liên
    tục, ở giữa là vùng núi thấp và bị nhiều sông suối cắt ngang
    như sông Ba Chẽ, sông Phố Cũ, sông Tiên Yên...
    Sự hình thành các cánh cung núi có ảnh hưởng rõ rệt
    tới thời tiết, khí hậu miền này. Hằng ngày, trên chương trình
    dự báo khí tượng của đài truyền hình, ta thấy nhiệt độ miền
    Đông Bắc vào mùa đông thường thấp hơn miền Tây Bắc
    một vài độ. Sở dĩ như vậy là do gió mùa từ phía đông bắc
    hun hút thổi về qua những "miệng phễu" mở rộng, mang
    cái giá rét thông thốc đột nhập vào các thung lũng nơi đây.

    Tiếp theo, chúng ta sẽ đến với các dãy núi chính của
    nước ta. Trước hết là các mạch núi miền Tây Bắc. Kẹp giữa
    sông Hồng và sông Đà là dãy Hoàng Liên Sơn sừng sững
    như nóc nhà Việt Nam và của cả Đông Dương. Đỉnh cao
    nhất là Phan Xi Păng cao 3.143 m.
    Do bị nén ép từ hai phía tạo nên các đứt gãy song song,
    núi non miền Tây Bắc cho đến miền Bắc Trung Bộ có kết cấu
    thành các dải sơn nguyên và sông suối kéo dài theo hướng
    tây bắc - đông nam. Các sơn nguyên này phần lớn được
    cấu tạo bởi đá vôi. Từ Sơn La xuống Mộc Châu, Hòa Bình,

    Bản đồ địa hình Việt Nam

    IV

    20

    độ cao các sơn nguyên đá vôi này cứ hạ thấp dần và chấm
    dứt ở Ninh Bình.
    Tây Bắc còn có một khối núi lớn nữa ở thượng nguồn
    sông Mã. Dãy núi này có độ cao trung bình, hơi bè rộng
    vòng sang bên nước bạn Lào và lan tỏa xuống tận xứ Thanh.
    Đây chính là đường phân thủy, một bên nước đổ vào hệ
    thống sông Mê Kông, một bên nước đổ xuống sông Mã.
    Dây núi lớn tiếp theo mà người Việt Nam ai cũng biết
    đến là dãy Trường Sơn, xuất phát từ thượng nguồn sông Cả
    trên đất Lào kéo dài mãi đến Nam Trung Bộ.
    Trường Sơn có nghĩa là "núi dài". Quả thật đây là dãy
    núi dài nhất Đông Dương, chiều dài khoảng 1.100 km.
    Các nhà địa lí chia ra thành Trường Sơn Bắc và Trường
    Sơn Nam.
    Trường Sơn Bắc được kể từ cao nguyên Trấn Ninh bên
    Lào, gồm nhiều nếp núi song song, xếp so le kiểu cánh gà
    theo hướng tây bắc - đông nam, kéo dài tới sát biển Đà
    Nang. Đây là một miền núi già, bị chia cắt nhiều bởi những
    con đèo, hẻm sông, với những đỉnh Phu Lai Leng, Rào

    cỏ,

    Ba Rền, u Bò...
    Gió tây vượt qua đỉnh Trường Sơn tạo thành thứ "gió
    Lào" khô nóng. Ngược lại phía sườn đông hứng mưa bão từ
    Biển Đông tràn về gây lũ lụt hằng năm. Dãy Bạch Mâ lại
    tạo một đường ranh giới khí hậu phía bắc và phía nam khi
    ta vượt qua đèo Hải Vân.
    Từ Đà Nẵng trở vào thuộc dãy Trường Sơn Nam, mạch

    núi đã bắt đầu chuyển dần theo hướng bắc tây bắc - nam
    đông nam, rồi chuyển thành hướng bắc - nam. Phía tây đất
    nước vồng cao lên khối cao nguyên Tây Nguyên đất đỏ trên
    đá bazan.
    Các núi ở Nam Trung Bộ ngoặt sang hướng đông bắc tây nam, thấp dần xuống miền Đông Nam Bộ...
    Hệ thống sơn văn ấy chính là "xương cốt" hình thành
    nên hình dạng chữ

    s của đất nước ta, uốn lượn bên

    bờ Biển

    Đông sóng vỗ.
    NÚI CAO. NÚI THÁP VÀ CAO NGUYÊN...
    Liên quan đến những khái niệm này, trước hết chúng
    ta cần làm rõ: Thế nào gọi là núi? Từ điển tiếng Việt của
    Viện Ngôn ngữ học (2001) giải thích: "N úi - Địa hình lồi,
    sườn dốc, nổi cao lên trên mặt đất, thường cao trên 200 m".
    Thấp hơn thì gọi là đồi: "Dạng địa hình lồi, có sườn thoải,
    thường không cao quá 200 m".
    Với các nhà địa lí, việc phân chia định loại chi tiết
    hơn, thành các dạng núi cao, núi trung bình, núi thấp, sơn
    nguyên, cao nguyên, đồi và bán bình nguyên.
    - Núi cao phải kể từ 2.500 m trở lên. ở nước ta dạng
    núi cao như thế chỉ chiếm 1% diện tích, phân bố tập trung
    ở miền Tây Bắc. Các núi cao này thuộc loại "trẻ", được
    nâng lên mạnh và thường cấu tạo bởi các loại đá cứng rắn
    nhưgranit và xienit, nên địa hình sắc sảo, đường phân thijy
    như những răng cưa, có những đỉnh nhọn hoắt. Sườn núi

    rất dốc, đến 35 - 40°, ở giáp đỉnh và dưới chân có khi tới
    45 - 50°. Các thung lũng thường là những hành lang hẹp,
    vách đứng, cứ như những nhát xẻ. Nước chảy xiết, cuồn
    cuộn trôi, xâm thực mãnh liệt.
    Núi cao nhất ở nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh
    Phan Xi Păng 3.143 m. Một số núi khác cũng được kể là
    núi cao, như Tả Yang Pinh 3.096 m, Pu Luông 2.913 m, Pu
    Lai Leng 2.711 m, Tây Côn Lĩnh 2.419 m. Các núi đó đều
    ở miền Bắc. Miền Nam có đỉnh Ngọc Lĩnh cao 2.598 m, A
    Tuất 2.500 m.
    - Dạng núi cao trung bình cỏ đỉnh từ 1.500 đến 2.500
    m, hình dáng vòm khối tảng, cấu tạo từ đá granit và đá biến
    chất uốn nếp, sườn dốc 25 - 30°, thung lũng hẹp.
    Có thể kể đến các đỉnh Pu Tha Ca 2.274 m, Kiều Liêu
    Ti 2.403 m, Phia Ya 1.981 m, Phia oắc 1.931 m ở miền
    Đông Bắc; Pu Sam Sao 1.898 m, Tà Phình 1.861 m, Pi
    Phạc Me 1.809 m ở miền Tây Bắc; các ngọn Pu Lai Leng
    2.711 m, Chử Yang Sin 2.405 m, Bi Đúp 2.297 m, Rào
    Cỏ 2.286 m, Lang Biang 2.163 m, Vọng Phu 2.022 m, Ta
    Dưng 1.892 m ở miền Nam trên dây Trường Sơn...
    - Núi thấp có độ cao từ 500 đến 1.500 m. Đây là dạng
    núi chiếm đa số ở miền núi nước ta, được cấu tạo bởi đủ thứ
    đá từ trầm tích, biến chất đến macma. Các dây núi cánh
    cung Đông Bắc hay phần lớn dãy Trường Sơn đều thuộc
    dạng này. Tuy nhiên, cũng có những đỉnh núi chỉ đạt độ
    cao trung bình, nhưng so với xung quanh lại là núi cao, như

    núi Mẩu Sơn 1.541 m, đỉnh Tản Viên 1.281 m...
    - Cao nguyên là những vùng cao có bề mặt tương đối
    bằng phẳng, cao thấp chênh nhau không quá 25 m. ở nước
    ta chỉ có vùng Tây Nguyên có lớp bazan phủ tràn đều trên
    nền đá cổ tạo thành bề mặt lượn sóng nhấp nhô có thể coi
    là cao nguyên.
    Một số nơi quen gọi là cao nguyên như "cao nguyên
    đá" Đồng Văn, cao nguyên Bắc Hà - Mường Khương, cao
    nguyên Sơn La... được cấu tạo bởi đá vôi, tuy cũng có những
    đỉnh cao sàn sàn nhau, nhưng đã bị xâm thực chia cắt
    thành các thung đôi khi rất sâu, chỉ nên gọi là sơn nguyên.
    - Đồi có độ cao tương đối (tính từ chân tới đỉnh) từ 25
    đến 200 m, độ cao tuyệt đối so với mặt biển dưới 500 m. ở
    nước ta, vùng đồi rộng lớn nhất là vùng Đông Bắc từ cánh
    cung Ngân Sơn đến sát đồng bằng, mà ta quen gọi là miền
    trung du. Sông suối víjng đồi vẫn có sức xâm thực vào đất

    Các dạng núi đồi

    đá, nhưng dòng chảy đã yếu đi, tạo nên những bậc thềm và
    bâi bồi trong các thung lũng bên sông.
    Do quá trình phong hóa, trên bề mặt vùng đồi hình
    thành một loại "đá" đặc biệt là đá ong. Đá ong khi nằm
    dưới đất còn mềm có thể dùng mai, xẻng xắn thành từng
    tảng vuông vắn, khi phơi lên mặt đất trở nên rắn chắc,
    dùng để làm nhà, xây tường chắn quanh sân vườn...
    Diện tích các đồi tương đương với diện tích núi. Do sự
    xâm thực của sông, suối trong suốt quá trình hình thành,
    các đồi tạo thành những bậc thềm tương đối có cùng độ
    cao. Nếu như các vùng núi còn hoang sơ thì các vùng đồi
    hầu như đã được con người khai thác, quần tụ thành làng
    mạc, khu dân cư, đất trồng trọt; rừng nguyên sinh đã được
    thay thế bằng rừng thứ sinh hay rừng trồng cây thuần chủng
    dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp.
    Chúng ta hãy tưởng tượng, châu thổ Sông Hồng như
    một sân bóng khổng lồ của những người khổng lồ, thì những
    bậc thềm sông và các mặt bằng núi non bao quanh chẳng
    khác nào những bậc ghế từ thấp lên cao quanh sân vận
    động dành cho những khán giả khổng lồ vậy.
    Vùng đồng bằng Bắc Bộ hầu như tỉnh nào cũng có
    những đồi thấp, trừ hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên.
    Đôi khi các địa hình nhô lên ở đồng bằng chỉ là đồi
    nếu theo đúng "tiêu chuẩn", nhưng do có độ cao tương đối
    so với xung quanh nên vẫn được gọi là "núi", như núi Phật
    Tích, núi Côn Sơn...

    - Cacxtơ: Nước ta có nhiều khối đá vôi rộng lớn tạo
    nên các dạng địa hình cacxtơ độc đáo, những đỉnh núi dốc
    đứng trơ trụi, những thung lũng, những cánh đồng cacxtơ,
    những hang động kì thú. Ta sẽ dành hẳn một mục riêng để
    nói về loại địa hình đặc biệt này.
    NGUỒN CỦA CHÌM GIẤU TRONG LÒNG ĐẤT
    Tại sao có mỏ quý trong lòng đất? Đó cũng là những bí
    ẩn mà bao thế hệ các nhà khoa học trên thế giới tìm cách
    khám phá.
    Trước tiên nói về loại mỏ sinh ra từ bên trong lòng
    đất, gọi là "mỏ nội sinh", ở bên dưới vỏ Trái đất có các lò
    macma nóng chảy chẳng khác gì lò luyện đan của Thái
    Thượng Lão Quân trong thần thoại. Cái mớ hổ lốn nóng
    bỏng bị nén chặt ấy chứa đủ thứ nguyên tố. Một khi vỏ Trái
    đất bên trên bị xô đẩy, xuất hiện các khe nứt, thì những
    dòng dung nham lập tức có cơ hội xuyên lên. Nhiều trường
    hợp nó chưa tới được mặt đất mà chỉ xuyên đến một mức
    nào đó thì đã nguội lạnh đi, tạo thành các khối đá xâm
    nhập, như đá granit (hoa cương), đá xienit. Giữa khối đá,
    các khoáng vật được kết tinh thành tinh thể như thạch anh,
    íenspat, mica, nhưng chúng vẫn chỉ là khoáng vật tạo đá
    nằm sít sịt nhau, ít thành mỏ quặng. Trong khi ở phần bên
    rìa, quá trình hạ nhiệt dần dần theo từng giai đoạn đã tạo
    điều kiện cho những tinh thể kết tinh thành các loại quặng
    khác nhau, như quặng thiếc, chì, kẽm, hay kim loại tự sinh
    ^26

    như vàng. (Vàng gốc không cần kết hợp với nguyên tố khác
    được gọi là vàng tự sinh). Macma còn có thể len lỏi theo
    các khe nứt đi lên phía trên, tạo ra các mỏ cách xa khối đá
    xâm nhập chính.
    Trường hợp dòng dung nham xuyên thủng được lên bề
    mặt sẽ tạo nên núi lửa. Tro núi lửa phun lên cao tích tụ lại
    thành loại đá túp, xốp nhẹ. Dung nham núi lửa nguội lạnh
    tạo thành các khối đá bazan, thường có cấu tạo dạng cột.
    Đá bazan sau này bị phong hóa thành quặng bauxit. Dung
    nham đọng lại trong họng núi lửa tạo thành một loại đá đặc
    biệt gọi là kimbeclit; những viên kim cương lấp lánh chính
    là được hình thành trong các đá họng núi lửa này.
    Dù cứng rắn như thế nào, trải qua năm tháng dưới
    nắng nung, nước xói, đá cũng phải rã rời, vỡ ra thành hòn,
    thành cuội, thành cát. Những vật liệu bở rời này trôi theo
    dòng nước tích tụ lại thành các tầng, các vỉa, nhưng do
    nặng nhẹ khác nhau, được sàng sê thành các vỉa quặng
    dạng cát. Các mỏ vàng, mỏ thiếc, mỏ titan sa khoáng... đã
    được hình thành như vậy.
    Người ta gọi các mỏ trầm tích sinh ra trên bề mặt đất
    như thế là mỏ ngoại sinh. Mỏ than cũng là mỏ ngoại sinh,
    nhưng không phải do tích tụ của đá vụn, mà do những cánh
    rừng thời xa xưa bị vùi lấp dưới nước, bị nén ép, cháy ngầm
    hóa thành các vỉa than. Khi còn "non" là than bùn, than
    nâu, than lửa dài; khi "già", thành than mỡ, than đá, than
    antraxit...

    Sự hình thành của các mỏ dầu là do trầm tích động
    vật, tảo biển và vi sinh vật bị phân hủy dưới sâu biến thành
    chất lỏng sền sệt hoặc khí đốt. Chất lỏng này nhẹ hơn nên
    len lỏi qua các lỗ hổng chui lên, trên đường đi bị chặn lại
    bởi các "bẫy" - những vòm đá chắn phía trên - tụ lại thành

    Khai thác mỏ

    mỏ dầu. Tuy nhiên, đây chỉ là một giả thuyết. Nguyên nhân
    của sự tạo thành dầu mỏ vẫn còn nhiều bí ẩn. Hiện nay
    người ta đâ phát hiện dầu mỏ không chỉ nằm trong các tầng
    đá trầm tích mà còn trong các đá nền móng xâm nhập bên
    dưới, nghĩa là dầu mỏ cũng có thể tạo ra từ sự kết hợp các
    nguyên tố trong lò macma!
    Điều kiện địa chất nước ta rất thuận lợi cho việc sinh
    thành các mỏ. Do những vận động tạo núi, vỏ Trái đất nước
    ta bị xô đẩy, uốn nếp, đứt gây, vỡ vụn, tạo điều kiện cho các
    lò macma dâng lên đem theo nhiều khoáng sản kết đọng
    lại thành mỏ.
    Mỏ sắt Thái Nguyên đã được khai thác và xây dựng
    thành Khu gang thép từ hơn nửa thế kỉ trước. Nhưng những
    mỏ tìm thấy sau này có trữ lượng còn lớn hơn rất nhiều, như
    mỏ Quý Xa (Yên Bái), mỏ Tòng Bá (Hà Giang). Lớn nhất là
    mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh). Ngoài ra, ở Cao Bằng, Thanh
    Hóa, Quảng Ngãi... cũng có những mỏ sắt nhỏ.
    Mỏ cromit

    cổ Định

    (Thanh Hóa) có nguồn gốc sinh

    thành là khối đá xâm nhập periđotit Núi Nưa. Mỏ này đã
    được người Pháp phát hiện và khai thác từ năm 1927. Từ
    khoáng vật cromit, người ta lấy ra được crom rất cần thiết
    trong công nghiệp chế tạo các hợp kim, thép không gỉ và
    mạ kim loại.
    Mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) là mỏ thiếc duy nhất được
    người Pháp biết đến và khai thác từ năm 1903 để chuyển
    về chính quốc. Quặng thiếc có nguồn gốc từ khối đá granit

    Phia Oăc, bị bào mòn phá hủy thành các hạt trầm tích sa
    khoáng trong thung lũng sông. Ngày nay đã tìm được thêm
    nhiều mỏ thiếc ở Tam Đảo, Sơn Dương (Tuyên Quang), Quỳ
    Châu (Nghệ An) và Thường Xuân (Thanh Hóa).
    Bauxit là quặng dùng để luyện nhôm, một kim loại
    mang tính chiến lược. Mỏ bauxit của nước ta nằm rải rác
    trên các khu vực đá vôi tuổi Pecmi*'*, như ở Lạng Sơn, Tuyên
    Quang, Lai Châu, Sơn La, kể cả ở Hải Dương. Tuy nhiên,
    chỉ mỏ bauxit phong hóa trên đá bazan ở Tây Nguyên mới
    được xếp vào một trong năm khu vực có trữ lượng bauxit
    lớn nhất thế giới.
    Đất hiếm là tên gọi chung của một nhóm kim loại có
    tính chất hết sức đặc biệt và không thể thiếu được đối với
    các ngành công nghệ cao, chiếm tỉ lệ rất nhỏ trên vỏ Trái
    đất. Đất hiếm thường rất phân tán, ít khi tập trung thành
    mỏ quặng. Như...
     
    Gửi ý kiến