Bài ca thư viện

Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Văn hóa đọc trong thời đại số

    Ảnh ngẫu nhiên

    Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat.png He_tieu_hoa_o_nguoi.png BANG_TUAN_HOAN_CAC_NGUYEN_TO_HOA_HOC.png Bandohoabinh.jpg Image1.jpg Th.jpg Upload_2022616_161555.png 8ed039ea20bf560ca184d28e5256c73e.jpg 46ca8f480c05e55bbc14.jpg Z5579161166251_1260d4c8070451d9056834fa2a35c61e.jpg Z5577753222982_6026ada42142d1e8380112e8dfa0a3be.jpg Z5577753391471_f4b7f60286c4b97e3e2134cfab791914.jpg

    opac tra cứu - tv quốc gia Việt Nam

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC LƯƠNG - YÊN THỦY - HÒA BÌNH💕💕

    Ý nghiã chiến thắng 30/4

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    nhật ký trong tù

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Mai
    Ngày gửi: 16h:06' 15-12-2025
    Dung lượng: 594.4 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    NHẬT KÝ
    TRONG TÙ

    Nguồn: Hồ Chí Minh – Viết bằng chữ Hán năm 1942 – 1943

    Bản dịch của Viện Văn học 
In trong sách Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù
    1
    http://www.bqllang.gov.vn/chu-tich-ho-chi-minh/tac-pham/1194-nh-t-ky-trong-tuh-chi-minh-vi-t-b-ng-ch-han-nam-1942-1943.html?showall=1&limitstart=

    Bài 1
     

    Thân thể tại ngục trung,
    Tinh thần tại ngục ngoại;
    Dục thành đại sự nghiệp,
    Tinh thần cánh yếu đại.
     
    Thân thể ở trong ngục,
    Tinh thần ở ngoài ngục;
    Muốn lên sự nghiệp lớn,
    Tinh thần càng phải cao.

    Thân thể ở trong lao,
    Tinh thần ở ngoài lao;
    Muốn lên sự nghiệp lớn,
    Tinh thần càng phải cao.
                   

    Nam Trân dịch

    (Trong nguyên bản, bốn câu thơ này không có
    đầu đề, chép ở ngoài bìa tập Ngục trung nhật ký cùng
    hình vẽ hai tay bị xiềng, có lẽ được tác giả coi như
    một lời đề từ cho toàn tập )
    2

     
    Bài 2

    Khai quyển
    Lão phu nguyên bất ái ngâm thi
    Nhân vị tù trung vô sở vi
    Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
    Thả ngâm thả đãi tự do thì
     

    Mở đầu tập Nhật ký
    Già này vốn không thích ngâm thơ,
    Nhân vì trong ngục không có gì làm
    Hãy mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài
    Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do
     
    Ngâm thơ ta vốn không ham,
    Nhưng vì trong ngục biết là chi đây;
    Ngày dài ngâm đợi cho khuây,
    Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
                        Nam Trân dịch

    3

    Bài 3

    Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu
    Túc Vinh khước sử dư mông nhục
    Cố ý trì diên ngã khứ trình
    Gián điệp hiềm nghi không niết tạo
    Bả nhân danh dự bạch hy sinh
     

    Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh
    Phố tên Túc Vinh mà khiến ta mang nhục,
    Cố ý làm chậm trễ hành trình của ta;
    Bày đặt ra trò tình nghi gián điệp,
    Không dưng làm mất danh dự của Người.
     
    Túc Vinh mà để ta mang nhục,
    Cố ý dằng dai, chậm bước mình;
    Bịa chuyện tình nghi là gián điệp,
    Cho người vô cớ mất thanh danh.
    Huệ Chi dịch
    Túc Vinh là tên một phố ở thị trấn huyện Thiên
    Bảo, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; Tác giả bị chính
    quyền Tưởng Giới Thạch bắt ngày 29/08/1942. Câu
    4

    đầu bài thơ còn ngụ ý chơi chữ, lấy “mông nhục”
    (mang nhục) đối lại với “túc vinh” (đủ vinh), làm
    tăng ý nghĩa mỉa mai hài hước việc bắt người vô lý
    của nhà cầm quyền Tưởng Giới Thạch.

    5

    Bài 4

    Nhập Tĩnh Tây huyện ngục
    Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
    Thiên thượng tình vân trục vũ vân
    Tình vũ phù vân phi khứ liễu
    Ngục trung lưu trú tự do nhân
     

    Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây
    Trong ngục tù cũ đón tù mới
    Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
    Mây tạnh, mây mưa, mấy đám mây nổi bay
    đi hết,
    Chỉ còn lại người tự do trong ngục.
     

    Trong lao tù cũ đón tù mới,
    Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
    Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết,
    Còn lại trong tù khách tự do.
                             Nam Trân dịch
    Tĩnh Tây là một huyện thuộc Quảng Tây, gần
    biên giới Trung - Việt. Tác giả bị bắt ở huyện Thiên
    Bảo cách Tĩnh Tây khá xa nhưng lại bị đưa ngược về
    Tĩnh Tây giam giữ.
    6

     
    Bài 5 -6- 7

    Thế lộ nan
                             I
    Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham
    Na tri bình lộ cánh nan kham
    Cao sơn lộ hổ chung vô dạng
    Bình lộ phùng nhân khước bị giam.
     
                             II
    Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân
    Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân
    Vô nại phong ba bình địa khởi
    Tống dư nhập ngụ tác gia tân
     
                             III
    Trung thành ngã bản vô tâm cứu
    Khước bị hiềm nghi tố Hán gian
    Xử thế nguyên lai phi dị dị
    Nhi kim xử thế cánh nan nan.
     

    7

    Đường đời hiểm trở
     


    I
    Đi khắp non cao và núi hiểm,
    Nào ngờ đường phẳng lại khó qua;
    Núi cao gặp hổ rút cục vẫn không việc gì,
    Đường phẳng gặp người lại bị bắt!
     
                             II
    Ta vốn là đại biểu dân Việt Nam,
    Định đến Trung Hoa gặp nhân vật trọng
    yếu;
    Không dưng đất bằng nổi sóng gió,
    Đưa ta vào làm “khách quý” trong tù!
     
                             III
    Vốn trung thực thành thật, ta không có
    điều gì thẹn với lòng
    Thế mà bị tình nghi là Hán gian;
    Việc xử thế vốn không phải là dễ,
    Lúc này, xử thế càng khó khăn hơn.
     
    8

                             I
    Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,
    Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!
    Núi cao gặp hổ mà vô sự,
    Đường phẳng gặp người bị tống lao?!
     
                             II
    Ta là đại biểu dân Việt Nam,
    Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;
    Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,
    Phải làm “khách quý” ở nhà giam!
     
                             III
    Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng,
    Lại bị tình nghi là Hán gian;
    Xử thế từ xưa không phải dễ,
    Mà nay, xử thế khó khăn hơn.
    Nam Trân dịch

    9

     
    Bài 8 -9

    Tảo
                             I
    Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng
    Chiếu trước lung môn môn vị khai
    Lung lý hiện thời hoàn hắc ám
    Quang minh khước dĩ diện tiền lai.
     
                             II
    Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt
    Bát chung hưởng liễu tảo xan khai
    Khuyến quân thả ngật nhất cá bão
    Bĩ cực chi thì tất thái lai.
     

    Buổi sớm
                              I
    Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường,
    Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở;
    Giờ đây trong lao còn đen tối,
    Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước
    mặt.
    10

     
                              II
    Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận,
    Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt
    đầu;
    Khuyên anh hãy cứ ăn no,
    Khổ đến tột cùng, vui ắt tới.
     

                             I
    Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
    Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
    Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
    Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
     
                             II
    Sớm dậy, người người đua bắt rận,
    Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai;
    Khuyên anh hãy gắn ăn no bụng,
    Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.
    Nam Trân dịch
    (Còn nữa)
    Kim Yến (st)
    11

     
    Bài 11

    Vấn thoại
    Xã hội đích lưỡng cực,
    Pháp quan dữ phạm nhân;
    Quan viết: Nhĩ hữu tội,
    Phạm viết: Ngã lương dân;
    Quan viết: Nhĩ thuyết giả,
    Phạm viết: Ngã ngôn chân;
    Pháp quan tính bản thiện,
    Giả trang ác ngân ngân;
    Yếu nhập nhân ư tội,
    Khước giả ý ân cần;
    Giá lưỡng cực chi gian,
    Lập trước công lý thần.
     

    Lời hỏi
    Hai cực trong xã hội,
    Quan toà và phạm nhân;
    Quan rằng: Anh có tội,
    Phạm thưa: Tôi lương dân;
    Quan rằng: Anh nói dối,
    12

    Phạm thưa: Thực trăm phần;
    Quan toà tính vốn thiện,
    Vờ làm bộ dữ dằn;
    Muốn khép người vào tội,
    Lại ra vẻ ân cần;
    Ở giữa hai cực đó,
    Công lý đứng làm thần.
     

    Hai cực trong xã hội,
    Quan tòa và phạm nhân;
    Quan rằng: Anh có tội,
    Phạm nhân: Tôi lương dân;
    Quan rằng: Anh nói dối,
    Phạm nhân: Thực trăm phần;
    Quan tòa tính vốn thiện,
    Vờ làm bộ dữ dằn;
    Muốn khép người vào tội,
    Lại ra vẻ ân cần;
    Ở giữa hai cực đó,
    Công lý đứng làm thần.
     Bản dịch của Huệ Chi - Nguyễn Sĩ Lâm
     
    13

    Bài 12

    Ngọ Hậu
    Nhị điểm khai lung hoán không khí,
    Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên;
    Tự do thiên thượng thần tiên khách,
    Tri phủ lung trung dã hữu tiên?
     

    Quá trưa
    Hai giờ chiều, nhà lao mở cửa đổi không khí,
    Mọi người ngẩng lên ngắm trời tự do;
    Khách thần tiên trên trời tự do,
    Biết chăng trong tù cũng có tiên?
     
    Hai giờ ngục mở thông hơi,
    Tù nhân ngẩng mặt ngắm trời tự do;
    Tự do tiên khách trên trời,
    Biết chăng trong ngục có người khách tiên?
                                                 Nam Trân dịch

    14

    Bản dịch khác

    Hai giờ ngục mở thay không khí,
    Ai nấy nhìn lên: Trời tự do!
    Tiên khách tự do trên thượng giới,
    Biết chăng, tiên cũng ở trong tù?
                                                 Vũ Huy Động dịch
     

    15

    Bài 13

    Vãn
    Vãn xan ngật liễu, nhật tây trầm,
    Xứ xứ sơn ca, dữ nhạc âm;
    U ám Tĩnh Tây cấm bế thất,
    Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm.
     

    Chiều hôm
    Cơm chiều xong, mặt trời lặn về tây,
    Khắp nơi, rộn tiến ca dân dã và tiếng nhạc;
    Nhà ngục u ám huyện Tĩnh Tây,
    Bỗng thành một viện hàn lâm nghệ thuật
    nhỏ.
     
    Cơm xong, bóng đã xuống trầm trầm,
    Vang tiếng đàn ca, rộn tiếng ngâm;
    Nhà ngục Tĩnh Tây mờ mịt tối,
    Bỗng thành nhạc quán viện hàn lâm.
                                       Nam Trân dịch
     
     
    16

    Bài 14

    Tù lương
    Mỗi xan nhất uyển hồng mễ phạn,
    Vô diêm, vô thái, hựu vô thang;
    Hữu nhân tống phạn, ngật đắc bão,
    Một nhân tống phạn, hán gia lương.
     

    Cơm tù
    Mỗi bữa một bát cơm gạo đỏ,
    Không muối, không rau cũng chẳng canh;
    Có người đem cơm được ăn no,
    Không người đem cơm, đói kêu cha kêu mẹ.
     
    Không rau, không muối, canh không có,
    Mỗi bữa lưng cơm đỏ gọi là;
    Có kẻ đem cơm còn chắc dạ,
    Không người lo bữa đói kêu cha.
                                       Nam Trân – Bằng Thanh dịch
     

    17

    Bài 15

    Nạn hữu xuy địch
    Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
    Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu;
    Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
    Khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu.
     
    Người bạn tù thổi sáo
    Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
    Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở lên
    sầu muộn;
    Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương
    vô hạn,
    Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng
    lầu.
     
    Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
    Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
    Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
    Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
                                       Nam Trân dịch
    18

    Bản dịch khác

    Trong lao vẳng khúc nhạc tình quê,
    Âm chuyển sầu thương, điệu tái tê;
    Nghìn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
    Lên lầu ai đó chốn phòng khuê.
                                       Huệ Chi dịch 

    19

     
    Bài 16-17

    Cướp áp
                        I
    Tranh ninh ngã khẩu tự hung thần,
    Vãn vãn trương khai bả cước thôn;
    Các nhân bị thôn liễu hữu cước,
    Chỉ thặng tả cước năng khuất thân.
                        II
    Thế gian gian cánh hữu ly kỳ sự,
    Nhân mẫn tranh tiên thượng cước kiềm;
    Nhân vị hữu kiềm tài đắc thụy,
    Vô kiềm một xứ khả an miên.
     

    Cái cùm
                       
    I
    Miệng đói dữ tượn như một hung thần,
    Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
    Người nào cũng bị nuốt chân phải,
    Chỉ còn chân trái co duỗi được thôi.
                       

    20


    II
    Trên đời lại có chuyện thật là kỳ,
    Mọi người tranh nhau đến trước để cùm
    chân;
    Vì có cùm chân mới được ngủ,
    Không cùm chân thì không chỗ ngủ yên.
     
                       
    I
    Dữ tựa hung thần miệng trực nhai,
    Đêm đêm há hốc nuốt chân người;
    Mọi người bị nuốt chân bên phải,
    Co duỗi còn chân bên trái thôi
                       
    II
    Nghĩ việc trên đời thật lạ kỳ,
    Cùm chân sau trước cũng tranh nhau;
    Được cùm chân mới yên bề ngủ,
    Không được cùm chân biết ngủ đâu
                                                Nam Trân dịch
     
     

    21

     
    Bài 18 – 19 – 20

    Học dịch kỳ
                        I
    Bế tọa vô liêu học dịch kỳ
    Thiên binh vạn mã cộng khu trì;
    Tấn công thoái thủ ưng thần tốc,
    Cao tài tật túc tiên đắc chi.
                        II
    Nhãn quang ưng đại tâm ưng tế
    Kiên quyết thì thì yếu tấn công
    Thác lộ, song xa dã một dụng
    Phùng thời nhất tốt khả thành công?
                        III
    Song phương thế lực thản bình quân
    Thắng lợi chung tu thuộc nhất nhân;
    Công thủ vận trù vô lậu toán,
    Tài xưng anh dũng đại tướng quân.
     

    22

    Học đánh cờ
                         I
    Ngồi trong giam cấm buồn tênh, học đánh
    cờ,
    Nghìn quân muôn ngựa cùng rong ruổi;
    Tấn công, lui giữ đều phải thần tốc,
    Tài cao, chân nhanh mới được nước trước.
                        II
    Tầm nhìn phải rộng, suy nghĩ phải sâu
    Phải kiên quyết, luôn luôn tấn công;
    Lạc nước, hai xe cũng thành vô dụng,
    Gặp thời một tốt có thể thành công.

    III
    Thế lực hai bên vốn ngang nhau,
    Kết cục thắng lợi thuộc về một người;
    Tính kế đánh hay, giữ không sơ hở,
    Mới xứng là bậc đại tướng anh dũng.
     

    23

                        I
    Tù túng đem cờ học đánh chơi,
    Thiên binh vạn mã đuổi nhau hoài;
    Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
    Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.
                        II
    Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
    Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
    Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
    Gặp thời, một tốt cũng thành công.
                        III
    Vốn trước hai bên ngang thế lực,
    Mà sau thắng lợi một bên giành;
    Tấn công, phòng thủ không sơ hở,
    Đại tướng anh hùng mới xứng danh.
                                                Văn Trực – Văn Phụng dịch
     

    24

    Bài 21

    Vọng nguyệt
    Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
    Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?
    Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
    Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
     
    Ngắm trăng
    Trong tù không rượu cũng không hoa,
    Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?
    Người hướng ra trước song ngắm ánh trăng
    sáng,
    Từ ngoài khe cửa trăng ngắm nhà thơ.
     
    Trong tù không rượu cũng không hoa,
    Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
    Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
                                                Nam Trân dịch
     

    25

    Bài 22

    Phân Thủy
    Mỗi nhân phân đắc thủy bán bồn,
    Tẩy diện, phanh trà các tùy tiện;
    Thùy yếu, tẩy diện, vật phanh trà,
    Thùy yếu phanh trà, vật tẩy diện.
      
    Chia nước
    Mỗi người được chia nửa chậu nước,
    Rửa mặt đun trà tùy ý mình;
    Ai muốn rửa ,mặt đừng đun trà,
    Ai muốn đun trà thôi rửa mặt.
     
    Mỗi người phần nước vừa lưng chậu,
    Rửa mặt đun trà tự ý ta;
    Ai muốn đun trà đừng rửa mặt,
    Ai cần rửa mặt chớ đun trà.
                                    Nam Trân – Trần Đắc Thọ dịch

    26

     
    Bài 23-24

    Trung Thu
                        
    I
    Trung thu thu nguyệt viên như kính,
    Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân;
    Gia lý đoàn viên ngật thu tiết,
    Bất vong ngục lý ngật sầu nhân.
                       

    II
    Ngục trung nhân dẫn thưởng trùng thu,
    Thu nguyệt, thu phong đới điểm sầu;
    Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,
    Tâm tùy thu nguyệt cộng du du!
     

    Trung Thu
                         I
    Trăng Trung Thu tròn như gương,
    Chiếu rọi cõi đời, ánh trăng trắng như bạc;
    Nhà ai sum họp ăn tết Trung Thu,
    Chẳng quyên người trong ngực nuốt sầu.
     
    27


    II
    Người trong ngục cũng thưởng thức Trung
    Thu,
    Trăng thu, gió thu đều vương sầu;
    Không được tự do ngắm trăng thu,
    Lòng theo cùng trăng thu vời vợi.
     
                        I
    Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,
    Sáng khắp nhân gian bạc một màu;
    Sum họp nhà ai ăn tết đó,
    Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
     
                        II
    Trung thu ta cũng tết trong tù,
    Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu;
    Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
    Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
                                                Nam Trân dịch
     Theo Hồ Chí Minh toàn tập
    (Còn nữa)
    Kim Yến (st)
     
    28

     
    Bài 34

    Điền Đông
    Mỗi xan nhất uyển công gia chúc,

    Đỗ tử thì thì tại thán hu;

    Bạch phạn tam nguyên bất câu bão,

    Tân như quế dã mễ như châu.
    Điền Đông 1
    Mỗi bữa được một bát cháo của nhà nước,
    Cái bụng luôn luôn than phiền;
    Cơm không ba đồng chẳng đủ no,
    Củi đắt như quế, gạo như châu.
     
    Cháo tù mỗi bữa chia lưng bát,
    Cái bụng luôn luôn rên rỉ sầu;
    Cơm nhạt ba đồng ăn chẳng đủ,
    Củi thì như quế, gạo như châu.
    Nam Trân – Hoàng Trung Thông dịch

    1. Điền Đông: Một địa điểm trên đường bộ từ Tĩnh Tây đi Nam
    Ninh (ND).

    29

      
    Bài 35

    Sơ đáo Thiên Bảo Ngục
    Nhật hành ngũ thập tam công lý,

    Thấp tận y quan, phá tận hài;

    Triệt dạ hựu vô an thụy xứ,

    Xí khanh thượng toạ đãi triêu lai.
    Mới đến nhà lao Thiên Bảo1
    Ngày đi năm mươi ba cây số,
    Ướt hết mũ áo, rách hết giày;
    Suốt đêm lại không có chỗ ngủ yên,
    Ngồi trên hố xí đợi trời sáng.
     
    Năm mươi ba dặm, một ngày trời,
    Áo mũ ướt đầm, dép tả tơi;
    Lại khổ thâu đêm không chốn ngủ,
    Ngồi trên hố xí đợi ban mai.

    1.  Không hiểu sao bài thơ này lại xếp sau bài Điền Đông, có lẽ là
    hồi ức về quãng đường đi từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. 

    30

    Bản dịch khác:

    Ngày cuốc năm mươi ba cột số,
    Ướt đầm mũ áo, rách bươm giày;
    Thâu đêm lại chẳng nơi yên giấc,
    Ngồi trấn cầu tiêu, đợi sáng ngày.
    Khương Hữu Dụng – Nguyễn Sĩ Lâm dịch

    Nạn hữu chi thê thám giam
    Quân tại thiết song lý,

    Thiếp tại thiết song tiền;

    Tương cận tại chỉ xích,

    Tương cách tự thiên uyên;

    Khẩu bất năng thuyết đích,

    Chỉ lại nhãn truyền nghiên (ngôn);

    Vị ngôn lệ dĩ mãn,
Tình cảnh chân khả liên!
    Vợ người bạn tù
    đến nhà lao thăm chồng
    Chàng ở trong song sắt,
    Thiếp ở ngoài song sắt;
    Gần nhau chỉ tấc gang,
    Mà cách nhau trời vực;
    31

    Miệng không thốt lên lời,
    Chuyển lời nhờ khoé mắt;
    Chưa nói nước mắt tràn,
    Tình cảnh thật đáng thương!
     
    Anh ở trong song sắt,
    Em ở ngoài song sắt;
    Gần nhau chỉ tấc gang,
    Mà cách nhau trời vực;
    Miệng nói chẳng nên lời,
    Chỉ còn nhờ khoé mắt;
    Chưa nói, lệ tuôn tràn,
    Cảnh tình đáng thương thật!
    Nam Trân – Hoàng Trung Thông dịch

    32

    Bài 36

    Các báo: Hoan nghênh UY-KY đại hội
    Đồng thị Trung Quốc hữu,

    Đồng thị yếu phó Du;

    Quân vi tọa thượng khách,

    Ngã vi giai hạ tù;

    Đồng thị đại biểu dã,

    Đãi ngộ hồ huyền thù?

    Nhân tình phân lãnh nhiệt,

    Tự cổ thuỷ đông lưu!
    Các báo đăng tin: Hội họp lớn
    hoan nghênh UY-KY1  
    Cùng là bạn Trung Hoa,
    Cùng phải đi Trùng Khánh2;
    1. Uy Ki: Tức Wendell Willkie, đại biểu Mỹ trong phe Đồng minh
    chống phát xít, đi thăm Trùng Khánh. Lúc ông đi qua Đệ tứ
    chiến khu Quảng Tây, nhà đương cục tổ chức hội họp chiêu
    đãi. Bấy giờ tác giả là đại biểu của Việt Nam Độc lập đồng
    minh, cũng là đồng minh của Trung Quốc chống Nhật. Nhưng
    giới cầm quyền ở Trùng Khánh lại bắt giam Người
    2. Trùng Khánh: Còn có tên là Du, một phủ thuộc tỉnh Tứ Xuyên,
    nơi Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đóng thời chống Nhật.

    33

    Anh là khách ngồi trên,
    Tôi là tù dưới thềm;
    Cùng là đại biểu cả,
    Đối đãi sao quá khác biệt?
    Thói đời thường phân ấm lạnh,
    Từ xưa nước vẫn chảy về đông!
     
    Cũng là đi Trùng Khánh,
    Cũng là bạn Trung Hoa;
    Anh, làm khách trên sảnh,
    Tôi, thân tù dưới nhà;
    Cùng là đại biểu cả,
    Khinh trọng sao khác xa?
    Thói thường chia ấm lạnh,
    Về đông nước chảy mà!
    Nam Trân dịch

    34

                           
    Bài 37

    Tự miễn
    Một hữu đông tàn tiều tụy cảnh,

    Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

    Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,

    Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.
    Tự khuyên mình
    Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
    Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
    Tai ương rèn luyện ta,
    Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
     
    Ví không có cảnh đông tàn,
    Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
    Nghĩ mình trong bước gian truân,
    Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
    Nam Trân dịch
     
     
     
    35

     
    Bài 38

    Dã cảnh
    Ngã lai chi thì hoà thượng thanh,

    Hiện tại thu thu bán di thành;

    Xứ xứ nông dân nhan đới tiếu,

    Điền gian sung mãn xướng ca thanh.
    Cảnh đồng nội
    Lúc ta đến lúa còn xanh,
    Nay vụ gặt đã xong một nửa;
    Nơi nơi nông dân mặt mày hớn hở,
    Ruộng đồng tràn đầy tiếng ca hát.
    Nam Trân dịch
    Bản dịch khác:

    Khi ta mới đến còn xanh lúa,
    Vụ gặt bây giờ nửa đã xong;
    Khắp chốn nông dân cười hớn hở,
    Câu ca tiếng hát rộn trên đồng.
     Nguyễn Sĩ Lâm dịch

    36

    Bài 39

    Chúc than
    Lộ bàng thụ ảnh lương âm hạ,

    Nhất duyện mao lư thị “tửu lâu”;

    Lãnh chúc, bạch diêm cung thực phổ,

    Hành nhân quá thử tạm đình lưu.
    Hàng Cháo
    Dưới bóng cây râm mát bên đường,
    Một túp lều tranh: Ấy là “tiệm rượu”;
    Cháo nguội và muối trắng làm thành thực đơn,
    Khách đi đường qua đây tạm dừng nghỉ.
    Ven đường nấp dưới bóng lùm cây,
    Một túp lều tranh: “tiệm rượu” đây;
    Nào món cháo hoa và muối trắng,
    Đường xa, khách tạm nghỉ nơi này.
    Huệ Chi dịch

    37

    Bài 40

    Quả Đức ngục
    Giam phòng dã thị tiểu gia đình,

    Sài, mễ, du, diêm tự kỷ doanh;

    Mỗi cá lung tiền nhất cá táo,

    Thành thiên chử phạn dữ điều canh.
    Nhà lao Quả Đức
    Phòng giam cũng là một gia đình nhỏ,
    Gạo, củi, dầu, muối, đều tự mình lo sắm;
    Trước mỗi phòng giam là một bếp,
    Suốt ngày thổi cơm và nấu canh.
    Nhà lao mà giống tiểu gia đình,
    Gạo, củi, muối, dầu tự sắm sanh;
    Trước mỗi phòng giam bày một bếp,
    Suốt ngày lụi hụi với cơm, canh.
    Huệ Chi dịch

    38

    Bài 41

    Long An lưu sở trưởng
    Biện sự nhận chân Lưu sở trưởng,

    Nhân nhân tán tụng nhĩ công bình;

    Văn tiền lạp mễ đô công bố,

    Can tịnh tù lung hảo vệ sinh.
    Sở trưởng Long An 1 họ Lưu
    Sở trưởng họ Lưu giải quyết công việcthận
    trọng, đúng đắn,
    Mọi người đều khen ông công bằng;
    Đồng tiền, hạt gạo đều công bố,
    Nhà lao sạch sẽ hợp vệ sinh.
    Làm việc đúng thay Lưu sở trưởng
    Ai ai cũng bảo bác công bình;
    Đồng tiền, bát gạo đều công bố,
    Sạch sẽ, lao tù rất vệ sinh.
    Nam Trân dịch
        An: Một phủ thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm trên
    1. Long
    sông
      Hữu Giang. Từ Quả Đức, tác giả bị giải chếch xuống phía
    Nam và dọc theo sông Hữu Giang đến Nam Ninh.
    39

                           
    Bài 42

    TẢO GIẢI

    I
    Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
    Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;
    Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
    Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

    II
    Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
    U ám tàn dư nhất tảo không1);
    Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
    Hành nhân thi hứng hốt gia nồng!
     

    GIẢI ĐI SỚM

    I
    Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
    Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi
    mùa thu;
    Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
    Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.

    40


    II
    Phương đông màu trắng chuyển thành
    hồng,
    Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
    Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
    Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
      

    I
    Gà gáy một lần đêm chửa tan,
    Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
    Người đi cất bước trên đường thẳm,
    Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.

    II
    Phương đông màu trắng chuyển sang
    hồng
    Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không;
    Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
    Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
    Nam Trân dịch

    41

                           
    Bài 43

    ĐỒNG CHÍNH
    (Thập nhất nguyệt nhị nhật)

    Đồng Chính chính đồng Bình Mã ngục,
    Mỗi xan nhất chúc đỗ không không;
    Thuỷ hoà quang tuyến hẩn sung túc,
    Nhật nhật hoàn khai lưỡng thứ lung.
     

    ĐỒNG CHÍNH1
    (Ngày 2 tháng 11)

    Nhà lao Đồng Chính giống hệt nhà lao
    Bình Mã2,
    Mỗi bữa một bát cháo, bụng thường rỗng
    không;
    Nước và ánh sáng thì đầy đủ,
    Mỗi ngày còn hai lần mở cửa buồng giam.
     
    1. Đồng Chính : Một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm
    trên đường từ Long An đi Nam Ninh dọc theo sông Hữu Giang.
    2. Bình Mã: Một trấn ở Tây bộ khu tự trị dân tộc Choang tỉnh
    Quảng Tây, bên bờ sông Hữu Giang, là nơi đóng của Cách
    mệnh uỷ viên hội Điền Đông. Nay là huyện lỵ Điền.

    42

    Bình Mã thế nào Đồng Chính vậy,
    Bữa lưng bát cháo bụng cồn cào;
    Nước và ánh sáng thì dư dật,
    Ngày lại hai lần mở cửa lao.
    Nam Trân dịch
     

    43

                           
    Bài 44

    NẠN HỮU ĐÍCH CHỈ BỊ
    Cựu quyển, tân thư tương bổ xuyết,
    Chỉ chiên do noãn quá vô chiên;
    Ngọc sàng cẩm trướng nhân tri phủ,
    Ngục lý hứa đa nhân bất miên?
     

    CHIẾC CHĂN GIẤY
    CỦA NGƯỜI BẠN TÙ
    Quyển cũ, sách mới cùng bồi chắp lại,
    Chăn giấy còn ấm hơn không có chăn;
    Người trên giường ngọc trướng gấm có biết
    chăng,
    Trong ngục bao nhiêu người không ngủ?
     
    Quyển xưa, sách mới bồi thêm ấm,
    Chăn giấy còn hơn chẳng có chăn;
    Trướng gấm, giường ngà, ai có biết?
    Trong tù bao kẻ ngủ không an?
    Nam Trân – Băng Thanh dịch
     
    44

    Bản dịch khác:

    Sách xưa vở mới khéo đem bồi,
    Chăn giấy hơn không đã hẳn rồi;
    Giường ngọc màn thêu ai có thấu,
    Trong lao không ngủ biết bao người.
    Hoàng Ngân dịch

    45

    Bài 45 

    DẠ LÃNH
    Thu thâm vô nhục diệc vô chiên,
    Súc hình cung yêu bất khả miên;
    Nguyệt chiếu đình tiêu tăng lãnh khí,
    Khuy song Bắc Đẩu dĩ hoành thiên.
     

    ĐÊM LẠNH
    Đêm cuối thu không đệm cũng không chăn,
    Nằm co cẳng cong lưng vẫn không ngủ
    được;
    Trăng soi khóm chuối trước sân càng tăng
    thêm khí lạnh,
    Nhòm qua cửa sổ, sao Bắc Đẩu đã ngang
    trời.
     
    Đêm thu không đệm cũng không chăn,
    Gối quắp, lưng còng, ngủ chẳng an;
    Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh,
    Nhòm song, Bắc Đẩu đã nằm ngang.
    Nam Trân dịch
    46

    Bản dịch khác:

    Cuối thu chăn đệm cũng đều không,
    Co quắp nằm mà ngủ chẳng xong;
    Sân chuối trăng soi thêm lạnh lẽo,
    Ngang trời, Bắc Đẩu hiện ngoài song.
    Trần Đắc Thọ dịch

    47

    Bài
     
    Gửi ý kiến