Ý nghiã chiến thắng 30/4
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Danh tướng Việt Nam tập 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Ngày gửi: 19h:05' 27-06-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Ngày gửi: 19h:05' 27-06-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
Table of Contents
LỜI NÓI ĐẦU
I - LÊ LỢI VÀ NGUYỄN TRÃI - HAI LÃNH TỤ XUẤT SẮC VÀ GIÀU UY TÍN NHẤT, HAI BỘ ÓC
CHIẾN LƯỢC LỚN NHẤT
LÊ LỢI (1385 - 1433)
NGUYỄN TRÃI (1380 – 1442)
II - DANH TƯỚNG LAM SƠN
LÊ VĂN AN (? - 1437)
BÙI BỊ (? - ?)
ĐỖ BÍ (? - ?)
NGUYỄN CHÍCH (1382 - 1448)
LƯU NHÂN CHÚ (? - 1433)
TRẦN NGUYÊN HÃN (? - 1429)
TRỊNH KHẢ ( ? - 1451)
LÊ KHÔI ( ? - 1446)
LÊ LAI (? - 1418)
ĐINH LỄ (? - 1427)
ĐINH LIỆT ( ? - 1471)
LÊ VĂN LINH (1377 - 1448)
NGUYỄN LÝ (? - 1445)
LÊ NGÂN (? - 1437)
LÊ SÁT ( ? - 1437)
LÊ THẠCH (? - 1421)
LÝ TRIỆN (? – 1427)
PHẠM VẤN (? - 1436)
PHẠM VĂN XẢO (? - 1429)
NGUYỄN XÍ (1397 – 1465)
III - PHỤ LỤC
TIỂU TRUYỆN VỀ TRỊNH LỖI
TIỂU TRUYỆN VỀ LÝ LĂNG (? - 1462)
TIỂU TRUYỆN VỀ LÊ NIỆM (? - 1485)
THAY LỜI BẠT
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
“DÂN TA CÓ MỘT LÒNG NỒNG NÀN YÊU NƯỚC. ĐÓ LÀ MỘT TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU
CỦA TA. TỪ XƯA ĐẾN NAY, MỖI KHI TỔ QUỐC BỊ XÂM LĂNG THÌ TINH THẦN ẤY LẠI SÔI
NỔI, NÓ KẾT THÀNH MỘT LÀN SÓNG VÔ CÙNG MẠNH MẼ, TO LỚN, NÓ LƯỚT QUA MỌI SỰ
NGUY HIỂM, KHÓ KHĂN, NÓ NHẬN CHÌM TẤT CẢ LŨ BÁN NƯỚC VÀ LŨ CƯỚP NƯỚC".
HỒ CHÍ MINH
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
LỜI NÓI ĐẦU
Bạn đọc yêu quý,
Trong tay bạn là tập thứ hai của bộ sách gồm nhiều tập, cùng mang tên gọi chung là
DANH TƯỚNG VIỆT NAM. Như đã có sơ bộ trình bày trong Lời nói đầu của tập I, tập thứ hai
xin được hân hạnh giới thiệu về danh tướng Lam Sơn - những vị anh hùng đã quả cảm sát
cánh cùng Lê Lợi, "vung gươm đại định", rửa nỗi nhục mất nước hơn hai mươi năm và góp
phần làm rạng rỡ thêm truyền thống bất khuất, kiên cường của dân tộc.
Để viết bộ sách này, chúng tôi đã cất công tra cứu rất nhiều thư tịch cổ khác nhau, đồng
thời, cố gắng khai thác tất cả những gì mà chúng tôi có thể khai thác được. Ngoài ra, chúng
tôi cũng trân trọng và thận trọng kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả
của những công trình có giá trị, từng được công bố dưới nhiều dạng thức khác nhau.
Lam Sơn là cơn bão lửa quật khởi của cả dân tộc ta, bùng nổ và kết thúc toàn thắng cách
đây đã hơn 500 năm. Sự khỏa lấp không thương tiếc của thời gian cộng với sự thất truyền
của sử liệu, khiến cho việc tái hiện lịch sử gặp rất nhiều khó khăn. Bởi lẽ đó, tập sách nhỏ này
nhất định sẽ không sao tránh khỏi những khiếm khuyết, mong bạn đọc rộng tình miễn thứ và
vui lòng chỉ giáo cho.
Cuối cùng, xin được chân thành cám ơn Nhà xuất bản Giáo dục, cảm ơn đông đảo bạn đọc
gần xa đã hào hiệp cổ vũ cho tác giả, từ khi bắt đầu khởi thảo cho đến khi hoàn tất từng cuốn
sách riêng, cũng như những bộ sách gồm nhiều tập khác nhau.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8-8-1996.
NGUYỄN KHẮC THUẦN
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
I - LÊ LỢI VÀ NGUYỄN TRÃI - HAI LÃNH TỤ XUẤT SẮC VÀ GIÀU UY
TÍN NHẤT, HAI BỘ ÓC CHIẾN LƯỢC LỚN NHẤT CỦA THẾ KỈ THỨ XV
LÊ LỢI (1385 - 1433)
“Vua xướng nghĩa dấy binh nhưng chưa từng giết sai một ai. Suốt đời, Vua chỉ biết lấy
mềm dẻo để chống cứng rắn, lấy sức yếu để chống giặc mạnh, lấy quân ít để thắng kẻ thù
đông, không quá hao tổn máu xương mà vẫn khuất phục được đối phương. Cho nên, Vua đã
chuyển vận bĩ sang vận thái, biến thế nguy thành sự yên, đổi thời loạn thành thời thái bình.
Mới hay : Thiên hạ chẳng ai địch nổi đấng nhân giả chính là câu rất hợp với Nhà vua vậy. Bởi
thế, Vua lấy được thiên hạ và truyền được cơ nghiệp đến muôn đời là chí phải.”
ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ
(Bản kỉ, quyển 10 - tờ 76-a)
I - THUỞ HÀN VI
"Ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (tức là ngày 10 tháng 9 năm 1385 - NKT), Vua sinh
tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương (nay là xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- NKT). Khi mới sinh, trông Vua thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc thật là tinh anh, kì vĩ
: mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, dáng đi như rồng, nhịp bước như
hổ, tiếng nói nghe như chuông... Bấy giờ, kẻ thức giả đều cho Vua là bậc phi thường.”
(Đại Việt sử kí toàn thư, Bản kỉ, quyển 10, tờ 1-b).
Tất cả các thư tịch cổ đều nói rằng, tằng tổ của Lê Lợi là Lê Hối, người thôn Như Áng,
huyện Lương Giang (nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá). Ông là người
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
: “Ngay thẳng, chất phác, hiền hậu và ít nói, nhưng hiểu biết rất sâu xa, có thể thấy việc từ
khi việc chưa xảy ra”. (Đại Việt thông sử, Đế kỉ, đệ nhất). Lê Hối kết duyên cùng bà Nguyễn
Thị Ngọc Duyên (người sách Quần Đội, huyện Lôi Dương nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hóa), sinh hạ ra Lê Đinh.
(Chữ Đinh cũng đọc là Thinh, cho nên, Lê Đinh được nhiều người phiên âm thành Lê
Thinh).
Sinh thời, Lê Hối là thầy cúng nên thường có dịp đi khắp đó đây. Và trong một chuyến đi,
vì quá say mê với đất Lam Sơn, ông đã quyết định dời nhà đến định cư hẳn ở đó. Sự cũ chép
:
“Một hôm, Lê Hối đi chơi, thấy có đàn chim cứ bay lượn vòng trên một khu đất dưới
chân núi Lam Sơn, trông tựa như một đám người đang tụ hội, liền nghĩ rằng chỗ ấy tất phải
là đất lành, bèn dời nhà đến đấy mà ở hẳn, rồi khai phá ruộng vườn, tự chăm lo cày cấy,
được ba năm thì thành sản nghiệp. Từ đấy, đời đời là hùng trưởng cả một phương. Vua (chỉ
Lê Lợi - NKT) sau dựng cờ mở nước, thực cũng bắt đầu từ nền tảng này".
Khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, Lê Hối được truy tôn là Cao Thượng Tổ Minh Hoàng Đế.
Lê Đinh là tổ phụ (tức ông nội) của Lê Lợi. Khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, Lê Đinh được
truy tôn là Hiến Tổ Trạch Hoàng Đế. Sinh thời, Lê Đinh được khen là người đã "nối được cơ
nghiệp của tiền nhân, giàu lòng thương người, cho nên, xa gần đều quy phụ. Trong nhà có
đến hàng ngàn tôi tớ" (Đại Việt thông sử, Đế kỉ, đệ nhất). Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị
Quách sinh hạ được hai người con trai, con trưởng là Lê Tòng, con thứ là Lê Khoáng.
Lê Khoáng chính là thân phụ của Lê Lợi. Sử cũ cho hay, Lê Khoáng là người thường "lấy
lễ nghĩa mà tiếp đãi tân khách, thương yêu dân, hay chu cấp và giúp đỡ cho người nghèo
khó hoặc bệnh tật, vì vậy khắp vùng đều cảm phục nghĩa khí" (Đại Việt thông sử, Đế kỉ, đệ
nhất) . Ông kết hôn với bà Trịnh Ngọc Thương, sinh hạ được ba người con trai là Lê Học, Lê
Trừ và Lê Lợi. Khi Lợi lên ngôi Hoàng Đế, Lê Khoáng được truy tôn là Tuyên Tổ Phúc Hoàng
Đế, Lê Học được truy tặng là Chiêu Hiếu Đại Vương, còn Lê Trừ thì được truy tặng là Hoàng
Dụ Vương.
Về ngày sinh của Lê Lợi, sách Đại Việt thông sử còn chép thêm một câu chuyện, tuy ngắn
nhưng cũng khá li kì như sau :
"Nguyên xưa ở làng Như Áng, xứ Du Sơn có một cây quế và dưới gốc cây quế này
thường có một con hùm xám xuất hiện, nhưng nó hiền lành, thân cận với người mà chẳng
hề làm hại ai. Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy ở đâu nữa. Người đương thời
cho đó là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có ánh sáng chiếu đỏ rực và hương thơm
bay ngào ngạt khắp làng".
Kế nghiệp cha ông, lớn lên, Lê Lợi là Phụ Đạo đất Khả Lam (Phụ Đạo là tên chức danh
đứng đầu một khu vực địa phương dưới cấp huyện. Phụ Đạo còn có uy quyền cả về mặt tinh
thần đối với dân trong khu vực). Cũng trong thời gian làm Phụ Đạo này, Lê Lợi "may mắn"
có được một huyệt đất quý. Sử cũ viết rằng :
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
"Thuở ấy, Vua sai người đến cày ruộng ở xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi. (Người
cày) bỗng thấy một vị sư già, mình khoác áo trắng, đi từ hướng làng Đức Trai tới, vừa đi vừa
than rằng :
- Đất này đẹp quá, thế mà chẳng có ai để trao cho.
Người cày thấy thế, vội về bảo cho Vua hay. Vua chạy gấp đến hỏi. Có người cho biết :
- Nhà sư đã đi rồi.
Theo hướng chỉ, Vua đi nhanh đến sách Quần Đội, huyện Lôi Dương. (Dọc đường), Vua
thấy có cái thẻ tre đề rằng :
Thiên đức thụ mệnh,
Tuế trung tứ thập,
Số dĩ chỉ định,
Tích tai vị cập.
(Nghĩa là : Đức trời nhận mệnh, vào tuổi bốn mươi, số kia đã định, tiểc thay chẳng kịp).
Vua thấy chữ ấy mà mừng nên càng cố đi nhanh. Lúc ấy, rồng vàng hiện lên che lấy Vua.
Vừa chợt thấy, vị sư già đã thưa rằng :
- Tôi từ đất Ai Lao đến, người họ Trịnh, tên tự là Bạch Thạch Sơn Tăng. Thấy Vua khí
tượng khác thường, đoán là có thể làm nên việc lớn.
Vua quỳ xuống tâu rằng :
- Mạch đất tôi đây sang hèn ra sao, dám xin thầy chỉ rõ cho.
Vị sư già nói :
- Xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi có một thửa đất rộng chừng nửa sào, có hình tượng
như cái ấn của nước nhà. Bên tả có Thái Thất là núi Chí Linh ở mường Giao Lão. Trong núi
ấy có gò Tiên Bạn và gò Chiêu Sơn ở xã An Khoái là án. Phía trước có nước Long Sơn. Phía
trong có nước Long Hồ, hình xoáy như ruột ốc. Bên hữu có nước hồ bao quanh phía ngoài
chân núi tựa như chuỗi hạt. Đất ấy đàn ông thì quý không thể nói được, nhưng đàn bà thì
hẳn là sẽ phải thất tiết. Tôi e rằng con cháu ngài về sau không ở cùng với nhau. Ngôi báu tất
có khi trung hưng. Mệnh trời có thể biết trước được. (Bây giờ) nếu có được thầy giỏi, đem
hài cốt đi cải táng thì vẫn có thể phấn phát được dăm trăm năm.
Nghe lời vị sư già, Vua đem hài cốt của thân phụ táng ở xứ ấy. Vào khoảng giờ Dần (tức
là khoảng 3 đến 5 giờ sáng - NKT), khi Vua về đến thôn Dao Xá Hạ thì vị sư già ấy cũng bay
lên trời. Vì lẽ này, Vua cho lập điện Tiên Du ở đấy. Trong động Chiêu Nghi, Vua cho dựng am
nhỏ (chỗ mộ Phật Hoàng). Đó chính là gốc cội của sự phát tích" (Lam Sơn thực lục, quyển 1).
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
II - ÂM THẦM CHUẨN BỊ
"Bởi biết người, biết ta,
Rõ chỗ yếu, chỗ mạnh,
Nên chờ dịp, đợi thời.
Khéo giấu sắc, giấu tài,
Ăn thường nếm mật,
Ngủ thường nằm gai,
Lo khôi phục đất cũ,
Rửa đại nhục cho đời."
(Nguyễn Trãi - Chí Linh sơn phú)
Năm Lê Lợi lên 22 tuổi cũng là năm quân Minh tràn sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng
chiến chống quân Minh do nhà Hồ lãnh đạo đã nhanh chóng bị thất bại. Bởi đại họa này,
những năm đau thương của đất nước bắt đầu. Dưới ách thống trị tàn bạo của quân Minh,
trăm họ bị đọa đày và đói khổ. Giặc đã nhẫn tâm :
"Thui dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ."
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ đã bùng nổ ở khắp nơi, trong đó, nổi bật hơn cả là
các cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi - Trần Quý Khoáng (1407 - 1413), khởi nghĩa Phạm Ngọc
(1419 - 1420), khởi nghĩa Lê Ngã (1419-1420) ...v.v. Lê Lợi rất kính trọng gương anh hùng
tiết tháo của những người đã quả cảm xả thân vì nước, nhưng, Lê Lợi cũng nhìn thấy rất rõ
những nguy cơ thất bại không thể nào tránh khỏi của họ. Và, xuất phát từ nhận thức sâu sắc
đó, Lê Lợi đã âm thầm chuẩn bị cho một một khởi nghĩa khác, có quy mô to lớn hơn, ở ngay
trên chính quê hương của mình. Toàn bộ quá trình chuẩn bị công phu này có thể tạm chia
làm mấy nội dung chính yếu sau đây :
- Chuẩn bị về dư luận :
Nếu không nhanh chóng tạo ra được một dư luận mạnh mẽ trong lòng xã hội rộng lớn,
thì sẽ không thể nào tập hợp và huy động được lực lượng cho cuộc vùng dậy lật đổ ách đô
hộ của quân Minh. Nhưng, trong điều kiện nghiệt ngã của hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ,
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
nếu không khôn khéo thì chính dư luận sẽ trở thành đầu mối quan trọng, khiến quân Minh
có thể nhanh chóng lần mò ra mọi kế hoạch của Lê Lợi. Trên cơ sở phân tích và cân nhắc
thực tế phức tạp này, Lê Lợi chủ trương phối hợp chặt chẽ với những người bạn gần gũi và
tâm đầu ý hợp nhất, tạo ra sự nhất trí cao độ trong dư luận, trước hết là ở ngay trên quê
hương của ông. Một trong những đặc trưng nổi bật của xã hội thế kỉ thứ XV là dễ dàng tin
vào những điềm lạ, và do đó, Lê Lợi đã bắt đầu tạo dư luận bằng cách tận dụng niềm tin vào
những điềm lạ này. Sử cũ chép rằng :
"Bấy giờ, Vua (chỉ Lê Lợi - NKT), kết bạn keo sơn với Lê Thận (tức Nguyễn Thận - NKT),
người ở sách Mục Sơn, huyện Cổ Lôi. Thận làm nghề chài lưới ở đầm Ma Viện. Đêm ấy, dưới
đáy nước (của đầm Ma Viện) bỗng có ánh sáng ngời lên như một bó đuốc. Thận quăng lưới
cả đêm mà chẳng được con cá nào, chỉ được một thanh sắt dài hơn một thước. Thận liền
đem về để trong góc nhà. Hôm đó, Thận làm giỗ gia tiên, Vua sang chơi nhà, thấy trong góc
tối của nhà Thận có ánh sáng thì nhận ra đó là một thanh sắt. Vua hỏi:
- Đó là thanh sắt nào vậy ?
Thận đáp :
- Đêm trước tôi ra quăng lưới (ở đầm Ma Viện) rồi tình cờ mà bắt được.
Vua liền xin, Thận cho ngay. Thanh sắt ấy đem về mài ra thì thấy có hai chữ Thuận Thiên
và chữ Lợi. Hôm khác, Vua vừa đi ra cửa thì thấy một chiếc cán kiếm mài chuốt đâu đó đã
xong, liền khấn vái với trời đất rằng :
- Nếu quả là trời đã ban kiếm cho thì kính xin cho lưỡi kiếm và cán kiếm này vừa khít
với nhau.
Xong thì ghép vào, quả vừa y với nhau, thành một cây kiếm. Một đêm trời làm mưa gió,
sáng sớm hôm sau, Hoàng Hậu (chỉ một trong ba người vợ của Lê Lợi, chưa rõ là ai - NKT)
ra vườn rau cải, thấy có bốn vết chân người to lớn khác thường, liền vào gọi Vua. Vua ra
vườn thì bắt được chiếc bảo ấn, trên cũng có khắc hai chữ Thuận Thiên và chữ Lợi. Vua
ngầm hiểu đó là (báu vật) trời ban, bèn giấu kín việc này." (Lam Sơn thực lục, Quyển 1.
Trong Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn không chép là đầm Ma Viện mà chép là sông Lam
Xuyên).
Những "điềm lạ" kể trên cứ thế truyền đi khắp Lam Sơn, và từ Lam Sơn, truyền dần đến
khắp bốn phương thiên hạ. Hào kiệt mọi miền lần lượt dò đường tìm đến Lam Sơn, tìm đến
với Lê Lợi. Là Phụ Đạo của đất Lam Sơn, Lê Lợi có đầy đủ điều kiện để ân cần tiếp đón họ :
"Vua tuy gặp buổi rối loạn mà vẫn bền chí ẩn náu chốn núi rừng, vừa lo cày cấy, vừa lấy
kinh sử làm vui, đã thế lại còn chuyên tâm học sách lược thao. Vua hậu đãi tân khách, tiếp
đón những người trốn tránh và làm phản (quân Minh), ngầm nuôi người đa mưu túc trí, bỏ
của để giúp kẻ cô đơn khó nghèo, nhún nhường dùng lễ hậu để thu nạp hào kiệt." (Lam Sơn
thực lục, Quyển 1).
Tuy nhiên, thời nào và ở đâu cũng vậy, hễ có cao thượng là có thấp hèn, có anh hùng là
có phản bội... Ngay trong buổi đầu của quá trình chuẩn bị đầy gian nan, Lê Lợi cũng đã vấp
phải sự chống phá ác liệt của bọn phản bội, thấp hèn. Một trong những kẻ ấy là Đỗ Phú. Sử
cũ chép như sau :
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
"Bấy giờ ở thôn Hào Lương (cùng huyện) có tên Đỗ Phú tranh kiện đất đai với Vua. Hắn
kiện đến tận tướng của nhà Minh. Quan xét án của giặc thấy hắn đuối lí, liền xử cho Vua
được thắng kiện. Đỗ Phú nhân đó mà sinh ra thù oán, liền (tố cáo) rồi dẫn đường cho quân
Minh tới bất Vua. Vua cùng với Lê Liễu bỏ chạy. Đến sông Khả Lam thì thấy xác một người
đàn bà, mình mặc áo trắng, đeo xuyến vàng và cài thoa vàng. Vua và Liễu ngửa mặt lên trời
khấn rằng :
- Ta bị giặc Minh đuổi, xin giúp ta thoát nạn. Sau, nếu ta giành được thiên hạ thì sẽ lập
miếu thờ. Hễ có bò hay heo để cúng tế thì sẽ cúng tế trước.
Vua và Liễu đắp mồ vừa xong thì giặc xua chó ngao chạy đến, bèn vội lẩn trốn vào gốc
cây đa. Giặc đâm mũi giáo đúng vào đùi bên trái của Liễu. Liễu liền lấy một nắm cát vuốt
mũi giáo cho sạch máu. Đúng lúc đó, bỗng có con chồn trắng từ trong hốc cây chạy ra. Chó
ngao liền lao theo đuổi chồn. Giặc vì thế mà hết ngờ có người trốn trong gốc cây, bèn bỏ đi.
Vua nhờ vậy mà được thoát. Về sau, khi đã dẹp yên thiên hạ, Vua phong cho người đàn bà
áo trắng, chết ở Khả Lam là Hoằng Hựu Đại Vương, và cả đến cây đa cũng được phong làm
Hộ Quốc Đại Vương." (Lam Sơn thực lục, Quyển 1).
Lê Lợi tuy bị Đỗ Phú âm mưu mượn tay quân Minh để hãm hại, nhưng, chí lớn vẫn
không hề vì thế mà suy giảm. Hào kiệt từ tận vùng trung du xa xôi như Lưu Nhân Chú, Trần
Nguyên Hãn ; từ đất kinh thành Thăng Long như Phạm Văn Xảo ; từ miền Nghệ An như
Nguyễn Xí ; từ đội ngũ Nho sĩ lỗi lạc như Nguyễn Trãi,... v.v. vẫn nườm nượp kéo về. Từ khi
có Nguyễn Trãi, công cuộc chuẩn bị về dư luận chẳng những được đẩy mạnh hơn mà còn
đạt tới trình độ tinh vi và sắc sảo hơn. Tương truyền, Nguyễn Trãi đã lấy mỡ viết vào lá cây
tám chữ Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, khiến cho kiến ăn thủng lá rồi lấy lá ấy mà thả
xuống nước sông. Lá theo dòng nước trôi mãi. Nhiều người bắt được, mật truyền cho nhau
rằng đó là mệnh trời, vì thế, đã nô nức kéo đến tụ nghĩa dưới ngọn cờ của Lê Lợi. Và quan
trọng hơn, khắp nơi đã sẵn sàng để ủng hộ Lê Lợi tùy theo khả năng cũng như điều kiện cụ
thể của mỗi vùng.
- Chuẩn bị về lực lượng và tổ chức
Đồng thời với quá trình chuẩn bị về dư luận, Lê Lợi đã gấp rút chuẩn bị cả về lực lượng
và tổ chức. Về lực lượng, ngoài các bậc anh hùng hào kiệt, Lê Lợi chủ trương phải tập hợp
và huy động cho bằng được sức mạnh cũng như trí tuệ của những người bị quân Minh bức
hiếp bóc lột nặng nề nhất, những người ở dưới đáy sâu nhất của xã hội. Nói theo cách nói
của Nguyễn Trãi là :
“Nêu hiệu gậy làm cờ,
Tập hợp bốn phương manh lệ.”
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
Lúc đầu, số người tìm đến với Lê Lợi chưa nhiều, nhưng sau đó đất quê hương của Lê
Lợi trở thành nơi quy tụ ngày càng dông đảo nghĩa sĩ bốn phương. Để che mắt kẻ thù, cũng
là để thuận tiện trong việc quản lí, Lê Lợi chia họ thành từng nhóm nhỏ, dựng trại rải rác ở
nhiều khu vực quanh Lam Sơn. Những nhóm này vừa khai khẩn đất đai và tích trữ lương
thực, vừa thường xuyên luyện tập võ nghệ để sẵn sàng chờ ngày ra quân. Lê Lợi cẩn trọng
chọn người giao việc, cốt để phát huy hết năng lực riêng biệt của từng cá nhân, đồng thời,
cũng để thông qua đó mà phát hiện thêm người hiền tài.
Đầu tháng hai năm Bính Thân (1416), Lê Lợi đã long trọng tổ chức một cuộc hội thề tại
Lũng Nhai (tức Lũng Mi hay làng Mé, nay thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh
Thanh Hóa, cách Lam Sơn chừng 10 cây số), sử gọi đó là Hội thề Lũng Nhai. Tham dự hội thề
này, ngoài Lê Lợi, còn có mười tám bậc hào kiệt thân tín khác. Đó là :
1. Lê Lai (người Dựng Tú, nay là xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa).
2. Nguyễn Thận (người Mục Sơn, nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).
3. Lê Văn An (Người cùng quê với Nguyễn Thận).
4. Lê Văn Linh (người Hải Lịch, nay thuộc xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh
Hóa).
5. Trịnh Khả (người Kim Bôi, nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa).
6. Trương Lôi (người Thu Mệnh, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông là gia
thần của Lê Lợi. Ông và Vũ Uy là hai người được Lê Lợi sai đi cày ruộng ở xứ Phật Hoàng,
động Chiêu Nghi).
7. Lê Liễu (người cùng quê với Lê Lợi).
8. Bùi Quốc Hưng (người Cống Khê, nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây).
9. Lê Hiểm (người dân tộc Mường, quê ở thôn Ngọc Châu, hương Lam Sơn, nay thuộc xã
Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa).
10. Lê Ninh (hiện chưa rõ lai lịch).
11. Vũ Uy (người cùng làng với Trương Lôi).
12. Nguyễn Trãi (tổ tiên người làng Chi Ngại nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương,
sau dời về làng Nhị Khê, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây).
13. Đinh Liệt (người làng Thúy Cối, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).
14. Lưu Nhân Chú (người làng Vạn Yên, nay thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).
15. Lê Bồi (người làng Nguyễn Xá, huyện Lương Giang, nay thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Thanh Hóa).
16. Nguyễn Lý (người làng Dao Xá, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hóa).
17. Đinh Lan (người làng Thúy Cối, cùng quê với Đinh Liệt).
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
18. Trương Chiến (người làng Thu Mệnh, cùng quê với Trương Lôi).
Tại Hội thề Lũng Nhai, Lê Lợi cùng các bậc hào kiệt thân tín kề trên đã long trọng thề
cùng hồn thiêng sông núi rằng :
"Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến, cộng cả thảy 19 người, tuy họ hàng
quê quán khác nhau, nhưng nguyện kết tình thân như một tổ liền cành, phận vinh hiển dẫu
có khác nhau, nghĩa vẫn thắm như chung một họ".
"Quân bằng đảng xâm lấn, vượt cửa quan làm hại, cho nên, Lê Lợi cùng với Lai, xuống
đến Trương Chiến, cộng cả thảy 19 người, cùng chung sức chung lòng, giữ cho đất nước
được yên, khiến xóm làng được ổn, thề sống chết có nhau, không dám quên lời thề son sắt.”
"Nếu như Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến ai thay lòng đổi dạ, núp bóng
quân thù để cầu lợi trước mắt, không bền chí hoặc quên lời thề ước, thì kính xin trời đất và
các đấng thần linh, hãy giáng trăm tai ương, khiến bản thân cho tới họ hàng và con cháu đều
bị tru diệt, chịu hết mọi hình phạt của trời." (Lam Sơn sự tích).
Số người tham dự Hội thề Lũng Nhai chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với tổng số những
người đã đến Lam Sơn tụ nghĩa lúc bấy giờ. Và, tuyệt đại đa số nhũng người có mặt trong
cuộc Hội thề này, sau đó đều được trao những chức vụ rất quan trọng. Nói khác hơn, Hội thề
Lũng Nhai thực chất là buổi lễ ra mắt được tổ chức dưới một dạng thức đặc biệt của Bộ chỉ
huy Lam Sơn. Từ đây, tất cả lực lượng của Lam Sơn được quản lí và huấn luyện ngày càng
quy củ. Từ đây, nhiệm vụ cụ thể của từng nghĩa sĩ Lam Sơn được quy định một cách rõ ràng.
- Chuẩn bị về tư tưởng và khẩu hiệu đấu tranh
Đây chính là khâu chuẩn bị vừa có ý nghĩa quan trọng rất đặc biệt cũng vừa là chỗ đánh
dấu sự khác nhau giữa Lam Sơn với tất cả các cuộc khởi nghĩa vũ trang đương thời. Người
cộng tác đắc lực và có hiệu quả cao nhất của Lê lợi trong vấn đề này là Nguyễn Trãi. Hàng
loạt ý kiến xuất sắc của Nguyễn Trãi được Lê Lợi tán thưởng và mau chóng biến thành tư
tưởng chỉ đạo chung của Bộ chỉ huy Lam Sơn.
Tư tưởng chung của Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn là phát động và lãnh đạo toàn thể
nhân dân vùng dậy lật ách đô hộ của quân Minh, giành lại độc lập và chủ quyền cho đất
nước. Để có thể huy động được sức dân, Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn chủ trương kết hợp
chặt chẽ giữa nhiệm vụ cứu nước với nhiệm vụ cứu dân. Trong hai nhiệm vụ chiến lược này,
cứu nước phải được đặt lên vị trí hàng đầu. Nói theo cách nói của Nguyễn Trãi là : “Quân
điếu phạt trước lo khử bạo.”
Muốn đánh và đánh thắng hoàn toàn lực lượng quân thù hùng hậu lại khét tiếng tàn bạo,
đã và đang xiết chặt ách đô hộ trên toàn cõi nước ta, theo Lê Lợi và Nguyễn Trãi, Lam Sơn
phải đồng thời tấn công trên rất nhiều mặt trận khác nhau, như : quân sự, chính trị, binh
vận và đặc biệt là ngoại giao. Quân trung từ mệnh tập là tác phẩm tập hợp những văn kiện
quan trọng, thể hiện những hoạt động vừa độc đáo lại vừa phong phú của Lam Sơn trên tất
cả các mặt trận sôi động này.
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
Về quân sự, Lê Lợi và Nguyễn Trãi cho rằng, không nên đánh vào thành, vì đánh vào
thành là hạ sách, ngược lại, phải biết khéo léo đánh vào lòng người. Và, về kỉ luật, Lê Lợi cho
rằng, phải xây dựng một đội quân trên dưới như cha con một nhà, Lam Sơn trước hết phải
là đội quân nhân nghĩa.
III - DỰNG CỜ XƯỚNG NGHĨA
"Chính lúc nghĩa binh mới nổi,
Là khi thế giặc đang hăng.”
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Ngày mồng 2 tết năm Mậu Tuất (tức là ngày 7-2-1418), Lam Sơn long trọng làm lễ tế cờ
xuất trận. Bấy giờ, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương và sát cánh với Lê Lợi là 35 võ tướng
(trong Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn đã thống kê cả một danh sách đến 51 người, nhưng
trong Đại Việt sử kí toàn thư, thì tất cả chỉ có 30 nhỏ. Đây theo Lam Sơn thực lục) cùng một
số quan văn, 200 quân Thiết Đột, 200 nghĩa sĩ, 200 dũng sĩ, tổng cộng khoảng chừng 2000
người và 14 con voi chiến. Đó là những con số phản ánh kết quả của một quá trình chuẩn bị
rất công phu, nhưng, nếu so với quân cướp nước và bè lũ tay sai thì đó chỉ mới là một lực
lượng rất bé nhỏ. Tương quan thế và lực giữa đôi bên hoàn toàn không cân xứng. Trong
hoàn cảnh cực kì khó khăn như vậy, Lam Sơn phải chiến đấu trước hết bằng ý chí phi
thường của mình và bằng niềm tin sắt đá vào sự ủng hộ mãnh liệt của nhân dân cả nước.
Từ khi dựng cờ xướng nghĩa cho đến tháng 5 năm 1423, nhìn chung, Lam Sơn chỉ hoạt
động ở vùng rừng núi phía tây của Thanh Hóa ngày nay. Lợi dụng ưu thế áp đảo về quân số
và trang bị, quân Minh liên tiếp tổ chức các cuộc đàn áp đẫm máu, do vậy, Lê Lợi và các
nghĩa sĩ Lam Sơn đã phải chiến đấu vô cùng gian khổ, thậm chí có lúc phải đứng trước nguy
cơ bị tiêu diệt. Bao phen, Lam Sơn bị tuyệt lương, phải đào củ rừng, hái lá rừng mà sống, Lê
Lợi đành làm thịt cả voi chiến và ngựa chiến của mình cho quân sĩ ăn. Cuộc bao vây và đàn
áp nghiệt ngã cộng với bệnh tật bởi lam chướng của núi rừng đã khiến cho nhân lực của
Lam Sơn bị tổn thất rất nặng. Tình thế quả đúng như Nguyễn Trãi mô tả :
"Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một lữ."
Tháng 5 năm 1423, khi mà Lam Sơn không thể tiếp tục kéo dài cuộc đối đầu bằng vũ lực,
cũng là khi mà quân Minh đã mệt mỏi bởi những cuộc động binh triền miên, hai bên đành
phải thỏa thuận bước vào một thời kì tạm thời hòa hoãn.
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
IV - TRỞ LẠI LAM SƠN
“Trời thử gieo gian nan trước khi trao trách nhiệm,
Nên ta càng cố chí vượt qua."
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Ngay sau khi hai bên thỏa thuận bước vào một thời kì tạm thời hòa hoãn, Lê Lợi cùng
các tướng lĩnh và toàn thể nghĩa sĩ liền trở lại Lam Sơn. Từ đây, tuy quân Minh tạm ngưng
các cuộc tấn công vũ trang vào Lam Sơn, nhưng bù lại, chúng tìm đủ mọi biện pháp tinh vi
nhất, xảo quyệt nhất để chia rẽ, dụ dỗ và mua chuộc. Từ đây, Lê Lợi cùng tướng sĩ của mình
gấp rút tiến hành một loạt công việc sống còn của Lam Sơn như : sản xuất và tích trữ lương
thực trong các kho bí mật, tu bổ và sắm sửa thêm vũ khí, chiêu mộ và củng cố lực lượng, tìm
cách giao hảo để để phòng những cuộc tấn công bất ngờ của quân Minh... Nói theo cách nói
của Nguyễn Trãi là :
“Nội tu chiến cụ,
Ngoại thác hòa thân.”
(Nguyễn Trãi - Chí Linh sơn phú)
Chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn, tiềm lực của Lam Sơn chẳng những được phục
hồi mà còn nhanh chóng phát triển, đủ để có thể bước vào một thời kì chiến đấu lâu dài và
ác liệt hơn. Ngược lại mọi âm mưu xảo quyệt của quân Minh đều không thực hiện được.
Trong thử thách mới, một lần nữa, Lê Lợi lại nêu cao tấm gương tuyệt đối trung thành với
sự nghiệp cứu nước cứu dân :
“Đạo trong thiên hạ, không gì đáng trọng bằng trung nghĩa, không gì đáng quý bằng
danh tiết. Thích sống và sợ chết, lánh nhục mà tìm vinh... đó là những điều rất thường tình
của con người. Tôi từ khi sinh ra đã thích danh tiết và trọng trung nghĩa, bởi ghét kẻ tiểu
nhân nên dám dấn mình trong hoạn nạn, tuy trong cảnh gian nan nguy hiểm vẫn không hề
nhụt chí bình sinh.” (Nguyễn Trãi : Quân trung từ mệnh tập - Thư gửi Thái Giám Sơn Thọ).
Lê Lợi từng nói : "Chim tinh vệ lấp biển, nào há quản gian lao; kẻ oan ức trả thù, đâu kể
gì sống chết”. Ý chí của Lê Lợi cũng là ý chí chung của nghĩa sĩ Lam Sơn. Đó chính là sức
mạnh chủ yếu nhất để Lam Sơn hiên ngang bước vào một giai đoạn hoạt động mới.
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
V - LẬT NGƯỢC THẾ TRẬN
"Trận Bồ Đằng : sấm vang chớp giật;
Trận Trà Lân : trúc chẻ tro bay."
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Tháng 10 năm 1424, tại Lam Sơn, Lê Lợi đã triệu tập và chủ trì một hội nghị quân sự rất
quan trọng. Trong hội này, Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn đã có mấy quyết định lớn. Một là
chủ động tấn công vào quân Minh, chấm dứt hẳn thời kì tạm thời hòa hoãn. Hai là bắt đầu
giai đoạn chiến đấu mới bằng việc thực hiện kế hoạch chiến lược của danh tướng Nguyễn
Chích : đánh vào Nghệ An để tìm "đất đứng chân".
Ngay sau hội nghị này, Lê Lợi cùng tướng sĩ Lam Sơn bí mật hành quân vào Nghệ An. Tại
đây, Lam Sơn đã thắng một loạt trận lớn ở Bồ Đằng, Trà Lân, Khả Lưu... v.v. Chỉ trong vòng
một tháng, toàn bộ vùng đất Nghệ An đã được giải phóng (ngoại trừ một vài thành trì lớn,
nhưng những thành này lại bị Lam Sơn ráo riết vây hãm).
Đồng bằng Nghệ An rộng lớn đã nhanh chóng cung cấp sức người và sức của cho Lam
Sơn, khiến Lam Sơn đã mạnh lại thêm mạnh. Lê Lợi hiên ngang đặt đại bản doanh của mình
ở núi Thiên Nhẫn (tại đây lê Lợi cho xây thành để đặt đại bản doanh. Thành này, nhân dân
địa phương gọi là thành Lục Niên).
Sau khi giải phóng xong đồng bằng Nghệ An, Lê Lợi cho quân tiến ra giải phóng Diễn
Châu và Thanh Hóa. Tương tự như ở Nghệ An, chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn, Lam
Sơn đã giải phóng toàn bộ vùng đồng bằng rộng lớn của miền đất này. Giặc phải co về cố thủ
trong một vài thành trì kiên cố.
Trong lúc đó, một bộ phận lực lượng khác của Lam Sơn lại bất ngờ đánh vào vùng phía
nam của Nghệ An. Lúc bấy giờ, vùng này mang tên chung là Tân Bình và Thuận Hóa. Kết quả
là, lực lượng quân Minh ở đây đã bị đánh cho tan tành.
Như vậy là từ tháng 10 năm 1424 đến tháng 9 năm 1426, một vùng đất giải phóng rộng
lớn và liên hoàn từ Thanh Hóa trở về Nam đã hình thành và không ngừng được củng cố.
Quyết định táo bạo và rất đúng lúc của Bình Định Vương Lê Lợi đã đem lại kết quả rất mĩ
mãn. Từ đây, tương quan thế và lực giữa Lam Sơn với quân Minh đã hoàn toàn thay đổi. Từ
đây, Lam Sơn bất đầu chuyển hóa, phá bỏ ranh giới chật hẹp của một cuộc khởi nghĩa vũ
trang, vươn lên thành một cuộc chiến tranh giải phóng có quy mô ngày càng lớn.
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
VI - TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TỐT ĐỘNG - CHÚC ĐỘNG.
"Ninh Kiều: máu chảy đầy sông, tanh hôi muôn dặm ;
Tốt Động : thây phơi đầy nội, thối để ngàn thu."
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi hạ lệnh cho hơn một vạn quân, chia làm ba đạo khác nhau,
cùng tiến ra Bắc, mở đầu một giai đoạn hoạt động mới của Lam Sơn. Các tướng thân tín của
Lê Lợi như : Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả và Đỗ Bí (đạo quân thứ nhất), Bùi Bị, Lưu
Nhân Chú, Lê Trương và Lê Ninh (đạo quân thứ hai), Đinh Lễ, Nguyễn Xí (đạo quân thứ
ba)... v.v. có vinh dự được chỉ huy cuộc hành quân lớn này. Một lần nữa, Lê Lợi đã tỏ rõ niềm
tin tưởng mãnh liệt và sâu sắc đối với lực lượng và tướng lĩnh của mình. Cũng một lần nữa,
Lê Lợi tỏ rõ sự nhạy bén và quyết đoán rất đúng đắn của mình trước sự diễn biến vốn dĩ rất
phức tạp của tình hình chung. Đáp lại niềm tin tưởng mãnh liệt ấy của Lê Lợi, các tướng nói
trên đều gắng sức lập công, đặc biệt là các tướng chỉ huy của đạo quân thứ nhất. Trong vòng
một tháng, họ đã thắng ba trận lớn ở Ninh Kiều (nay thuộc Hà Tây), Nhân Mục (nay thuộc
Hà Nội) và Xa Lộc (nay thuộc Phú Thọ), buộc một loạt các tướng lĩnh cao cấp của quân Minh
phải co về cố t...
Table of Contents
LỜI NÓI ĐẦU
I - LÊ LỢI VÀ NGUYỄN TRÃI - HAI LÃNH TỤ XUẤT SẮC VÀ GIÀU UY TÍN NHẤT, HAI BỘ ÓC
CHIẾN LƯỢC LỚN NHẤT
LÊ LỢI (1385 - 1433)
NGUYỄN TRÃI (1380 – 1442)
II - DANH TƯỚNG LAM SƠN
LÊ VĂN AN (? - 1437)
BÙI BỊ (? - ?)
ĐỖ BÍ (? - ?)
NGUYỄN CHÍCH (1382 - 1448)
LƯU NHÂN CHÚ (? - 1433)
TRẦN NGUYÊN HÃN (? - 1429)
TRỊNH KHẢ ( ? - 1451)
LÊ KHÔI ( ? - 1446)
LÊ LAI (? - 1418)
ĐINH LỄ (? - 1427)
ĐINH LIỆT ( ? - 1471)
LÊ VĂN LINH (1377 - 1448)
NGUYỄN LÝ (? - 1445)
LÊ NGÂN (? - 1437)
LÊ SÁT ( ? - 1437)
LÊ THẠCH (? - 1421)
LÝ TRIỆN (? – 1427)
PHẠM VẤN (? - 1436)
PHẠM VĂN XẢO (? - 1429)
NGUYỄN XÍ (1397 – 1465)
III - PHỤ LỤC
TIỂU TRUYỆN VỀ TRỊNH LỖI
TIỂU TRUYỆN VỀ LÝ LĂNG (? - 1462)
TIỂU TRUYỆN VỀ LÊ NIỆM (? - 1485)
THAY LỜI BẠT
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
“DÂN TA CÓ MỘT LÒNG NỒNG NÀN YÊU NƯỚC. ĐÓ LÀ MỘT TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU
CỦA TA. TỪ XƯA ĐẾN NAY, MỖI KHI TỔ QUỐC BỊ XÂM LĂNG THÌ TINH THẦN ẤY LẠI SÔI
NỔI, NÓ KẾT THÀNH MỘT LÀN SÓNG VÔ CÙNG MẠNH MẼ, TO LỚN, NÓ LƯỚT QUA MỌI SỰ
NGUY HIỂM, KHÓ KHĂN, NÓ NHẬN CHÌM TẤT CẢ LŨ BÁN NƯỚC VÀ LŨ CƯỚP NƯỚC".
HỒ CHÍ MINH
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
LỜI NÓI ĐẦU
Bạn đọc yêu quý,
Trong tay bạn là tập thứ hai của bộ sách gồm nhiều tập, cùng mang tên gọi chung là
DANH TƯỚNG VIỆT NAM. Như đã có sơ bộ trình bày trong Lời nói đầu của tập I, tập thứ hai
xin được hân hạnh giới thiệu về danh tướng Lam Sơn - những vị anh hùng đã quả cảm sát
cánh cùng Lê Lợi, "vung gươm đại định", rửa nỗi nhục mất nước hơn hai mươi năm và góp
phần làm rạng rỡ thêm truyền thống bất khuất, kiên cường của dân tộc.
Để viết bộ sách này, chúng tôi đã cất công tra cứu rất nhiều thư tịch cổ khác nhau, đồng
thời, cố gắng khai thác tất cả những gì mà chúng tôi có thể khai thác được. Ngoài ra, chúng
tôi cũng trân trọng và thận trọng kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả
của những công trình có giá trị, từng được công bố dưới nhiều dạng thức khác nhau.
Lam Sơn là cơn bão lửa quật khởi của cả dân tộc ta, bùng nổ và kết thúc toàn thắng cách
đây đã hơn 500 năm. Sự khỏa lấp không thương tiếc của thời gian cộng với sự thất truyền
của sử liệu, khiến cho việc tái hiện lịch sử gặp rất nhiều khó khăn. Bởi lẽ đó, tập sách nhỏ này
nhất định sẽ không sao tránh khỏi những khiếm khuyết, mong bạn đọc rộng tình miễn thứ và
vui lòng chỉ giáo cho.
Cuối cùng, xin được chân thành cám ơn Nhà xuất bản Giáo dục, cảm ơn đông đảo bạn đọc
gần xa đã hào hiệp cổ vũ cho tác giả, từ khi bắt đầu khởi thảo cho đến khi hoàn tất từng cuốn
sách riêng, cũng như những bộ sách gồm nhiều tập khác nhau.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8-8-1996.
NGUYỄN KHẮC THUẦN
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
I - LÊ LỢI VÀ NGUYỄN TRÃI - HAI LÃNH TỤ XUẤT SẮC VÀ GIÀU UY
TÍN NHẤT, HAI BỘ ÓC CHIẾN LƯỢC LỚN NHẤT CỦA THẾ KỈ THỨ XV
LÊ LỢI (1385 - 1433)
“Vua xướng nghĩa dấy binh nhưng chưa từng giết sai một ai. Suốt đời, Vua chỉ biết lấy
mềm dẻo để chống cứng rắn, lấy sức yếu để chống giặc mạnh, lấy quân ít để thắng kẻ thù
đông, không quá hao tổn máu xương mà vẫn khuất phục được đối phương. Cho nên, Vua đã
chuyển vận bĩ sang vận thái, biến thế nguy thành sự yên, đổi thời loạn thành thời thái bình.
Mới hay : Thiên hạ chẳng ai địch nổi đấng nhân giả chính là câu rất hợp với Nhà vua vậy. Bởi
thế, Vua lấy được thiên hạ và truyền được cơ nghiệp đến muôn đời là chí phải.”
ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ
(Bản kỉ, quyển 10 - tờ 76-a)
I - THUỞ HÀN VI
"Ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (tức là ngày 10 tháng 9 năm 1385 - NKT), Vua sinh
tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương (nay là xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- NKT). Khi mới sinh, trông Vua thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc thật là tinh anh, kì vĩ
: mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, dáng đi như rồng, nhịp bước như
hổ, tiếng nói nghe như chuông... Bấy giờ, kẻ thức giả đều cho Vua là bậc phi thường.”
(Đại Việt sử kí toàn thư, Bản kỉ, quyển 10, tờ 1-b).
Tất cả các thư tịch cổ đều nói rằng, tằng tổ của Lê Lợi là Lê Hối, người thôn Như Áng,
huyện Lương Giang (nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá). Ông là người
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
: “Ngay thẳng, chất phác, hiền hậu và ít nói, nhưng hiểu biết rất sâu xa, có thể thấy việc từ
khi việc chưa xảy ra”. (Đại Việt thông sử, Đế kỉ, đệ nhất). Lê Hối kết duyên cùng bà Nguyễn
Thị Ngọc Duyên (người sách Quần Đội, huyện Lôi Dương nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hóa), sinh hạ ra Lê Đinh.
(Chữ Đinh cũng đọc là Thinh, cho nên, Lê Đinh được nhiều người phiên âm thành Lê
Thinh).
Sinh thời, Lê Hối là thầy cúng nên thường có dịp đi khắp đó đây. Và trong một chuyến đi,
vì quá say mê với đất Lam Sơn, ông đã quyết định dời nhà đến định cư hẳn ở đó. Sự cũ chép
:
“Một hôm, Lê Hối đi chơi, thấy có đàn chim cứ bay lượn vòng trên một khu đất dưới
chân núi Lam Sơn, trông tựa như một đám người đang tụ hội, liền nghĩ rằng chỗ ấy tất phải
là đất lành, bèn dời nhà đến đấy mà ở hẳn, rồi khai phá ruộng vườn, tự chăm lo cày cấy,
được ba năm thì thành sản nghiệp. Từ đấy, đời đời là hùng trưởng cả một phương. Vua (chỉ
Lê Lợi - NKT) sau dựng cờ mở nước, thực cũng bắt đầu từ nền tảng này".
Khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, Lê Hối được truy tôn là Cao Thượng Tổ Minh Hoàng Đế.
Lê Đinh là tổ phụ (tức ông nội) của Lê Lợi. Khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, Lê Đinh được
truy tôn là Hiến Tổ Trạch Hoàng Đế. Sinh thời, Lê Đinh được khen là người đã "nối được cơ
nghiệp của tiền nhân, giàu lòng thương người, cho nên, xa gần đều quy phụ. Trong nhà có
đến hàng ngàn tôi tớ" (Đại Việt thông sử, Đế kỉ, đệ nhất). Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị
Quách sinh hạ được hai người con trai, con trưởng là Lê Tòng, con thứ là Lê Khoáng.
Lê Khoáng chính là thân phụ của Lê Lợi. Sử cũ cho hay, Lê Khoáng là người thường "lấy
lễ nghĩa mà tiếp đãi tân khách, thương yêu dân, hay chu cấp và giúp đỡ cho người nghèo
khó hoặc bệnh tật, vì vậy khắp vùng đều cảm phục nghĩa khí" (Đại Việt thông sử, Đế kỉ, đệ
nhất) . Ông kết hôn với bà Trịnh Ngọc Thương, sinh hạ được ba người con trai là Lê Học, Lê
Trừ và Lê Lợi. Khi Lợi lên ngôi Hoàng Đế, Lê Khoáng được truy tôn là Tuyên Tổ Phúc Hoàng
Đế, Lê Học được truy tặng là Chiêu Hiếu Đại Vương, còn Lê Trừ thì được truy tặng là Hoàng
Dụ Vương.
Về ngày sinh của Lê Lợi, sách Đại Việt thông sử còn chép thêm một câu chuyện, tuy ngắn
nhưng cũng khá li kì như sau :
"Nguyên xưa ở làng Như Áng, xứ Du Sơn có một cây quế và dưới gốc cây quế này
thường có một con hùm xám xuất hiện, nhưng nó hiền lành, thân cận với người mà chẳng
hề làm hại ai. Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy ở đâu nữa. Người đương thời
cho đó là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có ánh sáng chiếu đỏ rực và hương thơm
bay ngào ngạt khắp làng".
Kế nghiệp cha ông, lớn lên, Lê Lợi là Phụ Đạo đất Khả Lam (Phụ Đạo là tên chức danh
đứng đầu một khu vực địa phương dưới cấp huyện. Phụ Đạo còn có uy quyền cả về mặt tinh
thần đối với dân trong khu vực). Cũng trong thời gian làm Phụ Đạo này, Lê Lợi "may mắn"
có được một huyệt đất quý. Sử cũ viết rằng :
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
"Thuở ấy, Vua sai người đến cày ruộng ở xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi. (Người
cày) bỗng thấy một vị sư già, mình khoác áo trắng, đi từ hướng làng Đức Trai tới, vừa đi vừa
than rằng :
- Đất này đẹp quá, thế mà chẳng có ai để trao cho.
Người cày thấy thế, vội về bảo cho Vua hay. Vua chạy gấp đến hỏi. Có người cho biết :
- Nhà sư đã đi rồi.
Theo hướng chỉ, Vua đi nhanh đến sách Quần Đội, huyện Lôi Dương. (Dọc đường), Vua
thấy có cái thẻ tre đề rằng :
Thiên đức thụ mệnh,
Tuế trung tứ thập,
Số dĩ chỉ định,
Tích tai vị cập.
(Nghĩa là : Đức trời nhận mệnh, vào tuổi bốn mươi, số kia đã định, tiểc thay chẳng kịp).
Vua thấy chữ ấy mà mừng nên càng cố đi nhanh. Lúc ấy, rồng vàng hiện lên che lấy Vua.
Vừa chợt thấy, vị sư già đã thưa rằng :
- Tôi từ đất Ai Lao đến, người họ Trịnh, tên tự là Bạch Thạch Sơn Tăng. Thấy Vua khí
tượng khác thường, đoán là có thể làm nên việc lớn.
Vua quỳ xuống tâu rằng :
- Mạch đất tôi đây sang hèn ra sao, dám xin thầy chỉ rõ cho.
Vị sư già nói :
- Xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi có một thửa đất rộng chừng nửa sào, có hình tượng
như cái ấn của nước nhà. Bên tả có Thái Thất là núi Chí Linh ở mường Giao Lão. Trong núi
ấy có gò Tiên Bạn và gò Chiêu Sơn ở xã An Khoái là án. Phía trước có nước Long Sơn. Phía
trong có nước Long Hồ, hình xoáy như ruột ốc. Bên hữu có nước hồ bao quanh phía ngoài
chân núi tựa như chuỗi hạt. Đất ấy đàn ông thì quý không thể nói được, nhưng đàn bà thì
hẳn là sẽ phải thất tiết. Tôi e rằng con cháu ngài về sau không ở cùng với nhau. Ngôi báu tất
có khi trung hưng. Mệnh trời có thể biết trước được. (Bây giờ) nếu có được thầy giỏi, đem
hài cốt đi cải táng thì vẫn có thể phấn phát được dăm trăm năm.
Nghe lời vị sư già, Vua đem hài cốt của thân phụ táng ở xứ ấy. Vào khoảng giờ Dần (tức
là khoảng 3 đến 5 giờ sáng - NKT), khi Vua về đến thôn Dao Xá Hạ thì vị sư già ấy cũng bay
lên trời. Vì lẽ này, Vua cho lập điện Tiên Du ở đấy. Trong động Chiêu Nghi, Vua cho dựng am
nhỏ (chỗ mộ Phật Hoàng). Đó chính là gốc cội của sự phát tích" (Lam Sơn thực lục, quyển 1).
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
II - ÂM THẦM CHUẨN BỊ
"Bởi biết người, biết ta,
Rõ chỗ yếu, chỗ mạnh,
Nên chờ dịp, đợi thời.
Khéo giấu sắc, giấu tài,
Ăn thường nếm mật,
Ngủ thường nằm gai,
Lo khôi phục đất cũ,
Rửa đại nhục cho đời."
(Nguyễn Trãi - Chí Linh sơn phú)
Năm Lê Lợi lên 22 tuổi cũng là năm quân Minh tràn sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng
chiến chống quân Minh do nhà Hồ lãnh đạo đã nhanh chóng bị thất bại. Bởi đại họa này,
những năm đau thương của đất nước bắt đầu. Dưới ách thống trị tàn bạo của quân Minh,
trăm họ bị đọa đày và đói khổ. Giặc đã nhẫn tâm :
"Thui dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ."
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ đã bùng nổ ở khắp nơi, trong đó, nổi bật hơn cả là
các cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi - Trần Quý Khoáng (1407 - 1413), khởi nghĩa Phạm Ngọc
(1419 - 1420), khởi nghĩa Lê Ngã (1419-1420) ...v.v. Lê Lợi rất kính trọng gương anh hùng
tiết tháo của những người đã quả cảm xả thân vì nước, nhưng, Lê Lợi cũng nhìn thấy rất rõ
những nguy cơ thất bại không thể nào tránh khỏi của họ. Và, xuất phát từ nhận thức sâu sắc
đó, Lê Lợi đã âm thầm chuẩn bị cho một một khởi nghĩa khác, có quy mô to lớn hơn, ở ngay
trên chính quê hương của mình. Toàn bộ quá trình chuẩn bị công phu này có thể tạm chia
làm mấy nội dung chính yếu sau đây :
- Chuẩn bị về dư luận :
Nếu không nhanh chóng tạo ra được một dư luận mạnh mẽ trong lòng xã hội rộng lớn,
thì sẽ không thể nào tập hợp và huy động được lực lượng cho cuộc vùng dậy lật đổ ách đô
hộ của quân Minh. Nhưng, trong điều kiện nghiệt ngã của hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ,
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
nếu không khôn khéo thì chính dư luận sẽ trở thành đầu mối quan trọng, khiến quân Minh
có thể nhanh chóng lần mò ra mọi kế hoạch của Lê Lợi. Trên cơ sở phân tích và cân nhắc
thực tế phức tạp này, Lê Lợi chủ trương phối hợp chặt chẽ với những người bạn gần gũi và
tâm đầu ý hợp nhất, tạo ra sự nhất trí cao độ trong dư luận, trước hết là ở ngay trên quê
hương của ông. Một trong những đặc trưng nổi bật của xã hội thế kỉ thứ XV là dễ dàng tin
vào những điềm lạ, và do đó, Lê Lợi đã bắt đầu tạo dư luận bằng cách tận dụng niềm tin vào
những điềm lạ này. Sử cũ chép rằng :
"Bấy giờ, Vua (chỉ Lê Lợi - NKT), kết bạn keo sơn với Lê Thận (tức Nguyễn Thận - NKT),
người ở sách Mục Sơn, huyện Cổ Lôi. Thận làm nghề chài lưới ở đầm Ma Viện. Đêm ấy, dưới
đáy nước (của đầm Ma Viện) bỗng có ánh sáng ngời lên như một bó đuốc. Thận quăng lưới
cả đêm mà chẳng được con cá nào, chỉ được một thanh sắt dài hơn một thước. Thận liền
đem về để trong góc nhà. Hôm đó, Thận làm giỗ gia tiên, Vua sang chơi nhà, thấy trong góc
tối của nhà Thận có ánh sáng thì nhận ra đó là một thanh sắt. Vua hỏi:
- Đó là thanh sắt nào vậy ?
Thận đáp :
- Đêm trước tôi ra quăng lưới (ở đầm Ma Viện) rồi tình cờ mà bắt được.
Vua liền xin, Thận cho ngay. Thanh sắt ấy đem về mài ra thì thấy có hai chữ Thuận Thiên
và chữ Lợi. Hôm khác, Vua vừa đi ra cửa thì thấy một chiếc cán kiếm mài chuốt đâu đó đã
xong, liền khấn vái với trời đất rằng :
- Nếu quả là trời đã ban kiếm cho thì kính xin cho lưỡi kiếm và cán kiếm này vừa khít
với nhau.
Xong thì ghép vào, quả vừa y với nhau, thành một cây kiếm. Một đêm trời làm mưa gió,
sáng sớm hôm sau, Hoàng Hậu (chỉ một trong ba người vợ của Lê Lợi, chưa rõ là ai - NKT)
ra vườn rau cải, thấy có bốn vết chân người to lớn khác thường, liền vào gọi Vua. Vua ra
vườn thì bắt được chiếc bảo ấn, trên cũng có khắc hai chữ Thuận Thiên và chữ Lợi. Vua
ngầm hiểu đó là (báu vật) trời ban, bèn giấu kín việc này." (Lam Sơn thực lục, Quyển 1.
Trong Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn không chép là đầm Ma Viện mà chép là sông Lam
Xuyên).
Những "điềm lạ" kể trên cứ thế truyền đi khắp Lam Sơn, và từ Lam Sơn, truyền dần đến
khắp bốn phương thiên hạ. Hào kiệt mọi miền lần lượt dò đường tìm đến Lam Sơn, tìm đến
với Lê Lợi. Là Phụ Đạo của đất Lam Sơn, Lê Lợi có đầy đủ điều kiện để ân cần tiếp đón họ :
"Vua tuy gặp buổi rối loạn mà vẫn bền chí ẩn náu chốn núi rừng, vừa lo cày cấy, vừa lấy
kinh sử làm vui, đã thế lại còn chuyên tâm học sách lược thao. Vua hậu đãi tân khách, tiếp
đón những người trốn tránh và làm phản (quân Minh), ngầm nuôi người đa mưu túc trí, bỏ
của để giúp kẻ cô đơn khó nghèo, nhún nhường dùng lễ hậu để thu nạp hào kiệt." (Lam Sơn
thực lục, Quyển 1).
Tuy nhiên, thời nào và ở đâu cũng vậy, hễ có cao thượng là có thấp hèn, có anh hùng là
có phản bội... Ngay trong buổi đầu của quá trình chuẩn bị đầy gian nan, Lê Lợi cũng đã vấp
phải sự chống phá ác liệt của bọn phản bội, thấp hèn. Một trong những kẻ ấy là Đỗ Phú. Sử
cũ chép như sau :
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
"Bấy giờ ở thôn Hào Lương (cùng huyện) có tên Đỗ Phú tranh kiện đất đai với Vua. Hắn
kiện đến tận tướng của nhà Minh. Quan xét án của giặc thấy hắn đuối lí, liền xử cho Vua
được thắng kiện. Đỗ Phú nhân đó mà sinh ra thù oán, liền (tố cáo) rồi dẫn đường cho quân
Minh tới bất Vua. Vua cùng với Lê Liễu bỏ chạy. Đến sông Khả Lam thì thấy xác một người
đàn bà, mình mặc áo trắng, đeo xuyến vàng và cài thoa vàng. Vua và Liễu ngửa mặt lên trời
khấn rằng :
- Ta bị giặc Minh đuổi, xin giúp ta thoát nạn. Sau, nếu ta giành được thiên hạ thì sẽ lập
miếu thờ. Hễ có bò hay heo để cúng tế thì sẽ cúng tế trước.
Vua và Liễu đắp mồ vừa xong thì giặc xua chó ngao chạy đến, bèn vội lẩn trốn vào gốc
cây đa. Giặc đâm mũi giáo đúng vào đùi bên trái của Liễu. Liễu liền lấy một nắm cát vuốt
mũi giáo cho sạch máu. Đúng lúc đó, bỗng có con chồn trắng từ trong hốc cây chạy ra. Chó
ngao liền lao theo đuổi chồn. Giặc vì thế mà hết ngờ có người trốn trong gốc cây, bèn bỏ đi.
Vua nhờ vậy mà được thoát. Về sau, khi đã dẹp yên thiên hạ, Vua phong cho người đàn bà
áo trắng, chết ở Khả Lam là Hoằng Hựu Đại Vương, và cả đến cây đa cũng được phong làm
Hộ Quốc Đại Vương." (Lam Sơn thực lục, Quyển 1).
Lê Lợi tuy bị Đỗ Phú âm mưu mượn tay quân Minh để hãm hại, nhưng, chí lớn vẫn
không hề vì thế mà suy giảm. Hào kiệt từ tận vùng trung du xa xôi như Lưu Nhân Chú, Trần
Nguyên Hãn ; từ đất kinh thành Thăng Long như Phạm Văn Xảo ; từ miền Nghệ An như
Nguyễn Xí ; từ đội ngũ Nho sĩ lỗi lạc như Nguyễn Trãi,... v.v. vẫn nườm nượp kéo về. Từ khi
có Nguyễn Trãi, công cuộc chuẩn bị về dư luận chẳng những được đẩy mạnh hơn mà còn
đạt tới trình độ tinh vi và sắc sảo hơn. Tương truyền, Nguyễn Trãi đã lấy mỡ viết vào lá cây
tám chữ Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, khiến cho kiến ăn thủng lá rồi lấy lá ấy mà thả
xuống nước sông. Lá theo dòng nước trôi mãi. Nhiều người bắt được, mật truyền cho nhau
rằng đó là mệnh trời, vì thế, đã nô nức kéo đến tụ nghĩa dưới ngọn cờ của Lê Lợi. Và quan
trọng hơn, khắp nơi đã sẵn sàng để ủng hộ Lê Lợi tùy theo khả năng cũng như điều kiện cụ
thể của mỗi vùng.
- Chuẩn bị về lực lượng và tổ chức
Đồng thời với quá trình chuẩn bị về dư luận, Lê Lợi đã gấp rút chuẩn bị cả về lực lượng
và tổ chức. Về lực lượng, ngoài các bậc anh hùng hào kiệt, Lê Lợi chủ trương phải tập hợp
và huy động cho bằng được sức mạnh cũng như trí tuệ của những người bị quân Minh bức
hiếp bóc lột nặng nề nhất, những người ở dưới đáy sâu nhất của xã hội. Nói theo cách nói
của Nguyễn Trãi là :
“Nêu hiệu gậy làm cờ,
Tập hợp bốn phương manh lệ.”
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
Lúc đầu, số người tìm đến với Lê Lợi chưa nhiều, nhưng sau đó đất quê hương của Lê
Lợi trở thành nơi quy tụ ngày càng dông đảo nghĩa sĩ bốn phương. Để che mắt kẻ thù, cũng
là để thuận tiện trong việc quản lí, Lê Lợi chia họ thành từng nhóm nhỏ, dựng trại rải rác ở
nhiều khu vực quanh Lam Sơn. Những nhóm này vừa khai khẩn đất đai và tích trữ lương
thực, vừa thường xuyên luyện tập võ nghệ để sẵn sàng chờ ngày ra quân. Lê Lợi cẩn trọng
chọn người giao việc, cốt để phát huy hết năng lực riêng biệt của từng cá nhân, đồng thời,
cũng để thông qua đó mà phát hiện thêm người hiền tài.
Đầu tháng hai năm Bính Thân (1416), Lê Lợi đã long trọng tổ chức một cuộc hội thề tại
Lũng Nhai (tức Lũng Mi hay làng Mé, nay thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh
Thanh Hóa, cách Lam Sơn chừng 10 cây số), sử gọi đó là Hội thề Lũng Nhai. Tham dự hội thề
này, ngoài Lê Lợi, còn có mười tám bậc hào kiệt thân tín khác. Đó là :
1. Lê Lai (người Dựng Tú, nay là xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa).
2. Nguyễn Thận (người Mục Sơn, nay là xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).
3. Lê Văn An (Người cùng quê với Nguyễn Thận).
4. Lê Văn Linh (người Hải Lịch, nay thuộc xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh
Hóa).
5. Trịnh Khả (người Kim Bôi, nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa).
6. Trương Lôi (người Thu Mệnh, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông là gia
thần của Lê Lợi. Ông và Vũ Uy là hai người được Lê Lợi sai đi cày ruộng ở xứ Phật Hoàng,
động Chiêu Nghi).
7. Lê Liễu (người cùng quê với Lê Lợi).
8. Bùi Quốc Hưng (người Cống Khê, nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây).
9. Lê Hiểm (người dân tộc Mường, quê ở thôn Ngọc Châu, hương Lam Sơn, nay thuộc xã
Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa).
10. Lê Ninh (hiện chưa rõ lai lịch).
11. Vũ Uy (người cùng làng với Trương Lôi).
12. Nguyễn Trãi (tổ tiên người làng Chi Ngại nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương,
sau dời về làng Nhị Khê, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây).
13. Đinh Liệt (người làng Thúy Cối, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).
14. Lưu Nhân Chú (người làng Vạn Yên, nay thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).
15. Lê Bồi (người làng Nguyễn Xá, huyện Lương Giang, nay thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Thanh Hóa).
16. Nguyễn Lý (người làng Dao Xá, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hóa).
17. Đinh Lan (người làng Thúy Cối, cùng quê với Đinh Liệt).
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
18. Trương Chiến (người làng Thu Mệnh, cùng quê với Trương Lôi).
Tại Hội thề Lũng Nhai, Lê Lợi cùng các bậc hào kiệt thân tín kề trên đã long trọng thề
cùng hồn thiêng sông núi rằng :
"Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến, cộng cả thảy 19 người, tuy họ hàng
quê quán khác nhau, nhưng nguyện kết tình thân như một tổ liền cành, phận vinh hiển dẫu
có khác nhau, nghĩa vẫn thắm như chung một họ".
"Quân bằng đảng xâm lấn, vượt cửa quan làm hại, cho nên, Lê Lợi cùng với Lai, xuống
đến Trương Chiến, cộng cả thảy 19 người, cùng chung sức chung lòng, giữ cho đất nước
được yên, khiến xóm làng được ổn, thề sống chết có nhau, không dám quên lời thề son sắt.”
"Nếu như Lê Lợi cùng với Lê Lai, xuống đến Trương Chiến ai thay lòng đổi dạ, núp bóng
quân thù để cầu lợi trước mắt, không bền chí hoặc quên lời thề ước, thì kính xin trời đất và
các đấng thần linh, hãy giáng trăm tai ương, khiến bản thân cho tới họ hàng và con cháu đều
bị tru diệt, chịu hết mọi hình phạt của trời." (Lam Sơn sự tích).
Số người tham dự Hội thề Lũng Nhai chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với tổng số những
người đã đến Lam Sơn tụ nghĩa lúc bấy giờ. Và, tuyệt đại đa số nhũng người có mặt trong
cuộc Hội thề này, sau đó đều được trao những chức vụ rất quan trọng. Nói khác hơn, Hội thề
Lũng Nhai thực chất là buổi lễ ra mắt được tổ chức dưới một dạng thức đặc biệt của Bộ chỉ
huy Lam Sơn. Từ đây, tất cả lực lượng của Lam Sơn được quản lí và huấn luyện ngày càng
quy củ. Từ đây, nhiệm vụ cụ thể của từng nghĩa sĩ Lam Sơn được quy định một cách rõ ràng.
- Chuẩn bị về tư tưởng và khẩu hiệu đấu tranh
Đây chính là khâu chuẩn bị vừa có ý nghĩa quan trọng rất đặc biệt cũng vừa là chỗ đánh
dấu sự khác nhau giữa Lam Sơn với tất cả các cuộc khởi nghĩa vũ trang đương thời. Người
cộng tác đắc lực và có hiệu quả cao nhất của Lê lợi trong vấn đề này là Nguyễn Trãi. Hàng
loạt ý kiến xuất sắc của Nguyễn Trãi được Lê Lợi tán thưởng và mau chóng biến thành tư
tưởng chỉ đạo chung của Bộ chỉ huy Lam Sơn.
Tư tưởng chung của Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn là phát động và lãnh đạo toàn thể
nhân dân vùng dậy lật ách đô hộ của quân Minh, giành lại độc lập và chủ quyền cho đất
nước. Để có thể huy động được sức dân, Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn chủ trương kết hợp
chặt chẽ giữa nhiệm vụ cứu nước với nhiệm vụ cứu dân. Trong hai nhiệm vụ chiến lược này,
cứu nước phải được đặt lên vị trí hàng đầu. Nói theo cách nói của Nguyễn Trãi là : “Quân
điếu phạt trước lo khử bạo.”
Muốn đánh và đánh thắng hoàn toàn lực lượng quân thù hùng hậu lại khét tiếng tàn bạo,
đã và đang xiết chặt ách đô hộ trên toàn cõi nước ta, theo Lê Lợi và Nguyễn Trãi, Lam Sơn
phải đồng thời tấn công trên rất nhiều mặt trận khác nhau, như : quân sự, chính trị, binh
vận và đặc biệt là ngoại giao. Quân trung từ mệnh tập là tác phẩm tập hợp những văn kiện
quan trọng, thể hiện những hoạt động vừa độc đáo lại vừa phong phú của Lam Sơn trên tất
cả các mặt trận sôi động này.
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
Về quân sự, Lê Lợi và Nguyễn Trãi cho rằng, không nên đánh vào thành, vì đánh vào
thành là hạ sách, ngược lại, phải biết khéo léo đánh vào lòng người. Và, về kỉ luật, Lê Lợi cho
rằng, phải xây dựng một đội quân trên dưới như cha con một nhà, Lam Sơn trước hết phải
là đội quân nhân nghĩa.
III - DỰNG CỜ XƯỚNG NGHĨA
"Chính lúc nghĩa binh mới nổi,
Là khi thế giặc đang hăng.”
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Ngày mồng 2 tết năm Mậu Tuất (tức là ngày 7-2-1418), Lam Sơn long trọng làm lễ tế cờ
xuất trận. Bấy giờ, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương và sát cánh với Lê Lợi là 35 võ tướng
(trong Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn đã thống kê cả một danh sách đến 51 người, nhưng
trong Đại Việt sử kí toàn thư, thì tất cả chỉ có 30 nhỏ. Đây theo Lam Sơn thực lục) cùng một
số quan văn, 200 quân Thiết Đột, 200 nghĩa sĩ, 200 dũng sĩ, tổng cộng khoảng chừng 2000
người và 14 con voi chiến. Đó là những con số phản ánh kết quả của một quá trình chuẩn bị
rất công phu, nhưng, nếu so với quân cướp nước và bè lũ tay sai thì đó chỉ mới là một lực
lượng rất bé nhỏ. Tương quan thế và lực giữa đôi bên hoàn toàn không cân xứng. Trong
hoàn cảnh cực kì khó khăn như vậy, Lam Sơn phải chiến đấu trước hết bằng ý chí phi
thường của mình và bằng niềm tin sắt đá vào sự ủng hộ mãnh liệt của nhân dân cả nước.
Từ khi dựng cờ xướng nghĩa cho đến tháng 5 năm 1423, nhìn chung, Lam Sơn chỉ hoạt
động ở vùng rừng núi phía tây của Thanh Hóa ngày nay. Lợi dụng ưu thế áp đảo về quân số
và trang bị, quân Minh liên tiếp tổ chức các cuộc đàn áp đẫm máu, do vậy, Lê Lợi và các
nghĩa sĩ Lam Sơn đã phải chiến đấu vô cùng gian khổ, thậm chí có lúc phải đứng trước nguy
cơ bị tiêu diệt. Bao phen, Lam Sơn bị tuyệt lương, phải đào củ rừng, hái lá rừng mà sống, Lê
Lợi đành làm thịt cả voi chiến và ngựa chiến của mình cho quân sĩ ăn. Cuộc bao vây và đàn
áp nghiệt ngã cộng với bệnh tật bởi lam chướng của núi rừng đã khiến cho nhân lực của
Lam Sơn bị tổn thất rất nặng. Tình thế quả đúng như Nguyễn Trãi mô tả :
"Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một lữ."
Tháng 5 năm 1423, khi mà Lam Sơn không thể tiếp tục kéo dài cuộc đối đầu bằng vũ lực,
cũng là khi mà quân Minh đã mệt mỏi bởi những cuộc động binh triền miên, hai bên đành
phải thỏa thuận bước vào một thời kì tạm thời hòa hoãn.
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
IV - TRỞ LẠI LAM SƠN
“Trời thử gieo gian nan trước khi trao trách nhiệm,
Nên ta càng cố chí vượt qua."
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Ngay sau khi hai bên thỏa thuận bước vào một thời kì tạm thời hòa hoãn, Lê Lợi cùng
các tướng lĩnh và toàn thể nghĩa sĩ liền trở lại Lam Sơn. Từ đây, tuy quân Minh tạm ngưng
các cuộc tấn công vũ trang vào Lam Sơn, nhưng bù lại, chúng tìm đủ mọi biện pháp tinh vi
nhất, xảo quyệt nhất để chia rẽ, dụ dỗ và mua chuộc. Từ đây, Lê Lợi cùng tướng sĩ của mình
gấp rút tiến hành một loạt công việc sống còn của Lam Sơn như : sản xuất và tích trữ lương
thực trong các kho bí mật, tu bổ và sắm sửa thêm vũ khí, chiêu mộ và củng cố lực lượng, tìm
cách giao hảo để để phòng những cuộc tấn công bất ngờ của quân Minh... Nói theo cách nói
của Nguyễn Trãi là :
“Nội tu chiến cụ,
Ngoại thác hòa thân.”
(Nguyễn Trãi - Chí Linh sơn phú)
Chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn, tiềm lực của Lam Sơn chẳng những được phục
hồi mà còn nhanh chóng phát triển, đủ để có thể bước vào một thời kì chiến đấu lâu dài và
ác liệt hơn. Ngược lại mọi âm mưu xảo quyệt của quân Minh đều không thực hiện được.
Trong thử thách mới, một lần nữa, Lê Lợi lại nêu cao tấm gương tuyệt đối trung thành với
sự nghiệp cứu nước cứu dân :
“Đạo trong thiên hạ, không gì đáng trọng bằng trung nghĩa, không gì đáng quý bằng
danh tiết. Thích sống và sợ chết, lánh nhục mà tìm vinh... đó là những điều rất thường tình
của con người. Tôi từ khi sinh ra đã thích danh tiết và trọng trung nghĩa, bởi ghét kẻ tiểu
nhân nên dám dấn mình trong hoạn nạn, tuy trong cảnh gian nan nguy hiểm vẫn không hề
nhụt chí bình sinh.” (Nguyễn Trãi : Quân trung từ mệnh tập - Thư gửi Thái Giám Sơn Thọ).
Lê Lợi từng nói : "Chim tinh vệ lấp biển, nào há quản gian lao; kẻ oan ức trả thù, đâu kể
gì sống chết”. Ý chí của Lê Lợi cũng là ý chí chung của nghĩa sĩ Lam Sơn. Đó chính là sức
mạnh chủ yếu nhất để Lam Sơn hiên ngang bước vào một giai đoạn hoạt động mới.
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
V - LẬT NGƯỢC THẾ TRẬN
"Trận Bồ Đằng : sấm vang chớp giật;
Trận Trà Lân : trúc chẻ tro bay."
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Tháng 10 năm 1424, tại Lam Sơn, Lê Lợi đã triệu tập và chủ trì một hội nghị quân sự rất
quan trọng. Trong hội này, Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn đã có mấy quyết định lớn. Một là
chủ động tấn công vào quân Minh, chấm dứt hẳn thời kì tạm thời hòa hoãn. Hai là bắt đầu
giai đoạn chiến đấu mới bằng việc thực hiện kế hoạch chiến lược của danh tướng Nguyễn
Chích : đánh vào Nghệ An để tìm "đất đứng chân".
Ngay sau hội nghị này, Lê Lợi cùng tướng sĩ Lam Sơn bí mật hành quân vào Nghệ An. Tại
đây, Lam Sơn đã thắng một loạt trận lớn ở Bồ Đằng, Trà Lân, Khả Lưu... v.v. Chỉ trong vòng
một tháng, toàn bộ vùng đất Nghệ An đã được giải phóng (ngoại trừ một vài thành trì lớn,
nhưng những thành này lại bị Lam Sơn ráo riết vây hãm).
Đồng bằng Nghệ An rộng lớn đã nhanh chóng cung cấp sức người và sức của cho Lam
Sơn, khiến Lam Sơn đã mạnh lại thêm mạnh. Lê Lợi hiên ngang đặt đại bản doanh của mình
ở núi Thiên Nhẫn (tại đây lê Lợi cho xây thành để đặt đại bản doanh. Thành này, nhân dân
địa phương gọi là thành Lục Niên).
Sau khi giải phóng xong đồng bằng Nghệ An, Lê Lợi cho quân tiến ra giải phóng Diễn
Châu và Thanh Hóa. Tương tự như ở Nghệ An, chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn, Lam
Sơn đã giải phóng toàn bộ vùng đồng bằng rộng lớn của miền đất này. Giặc phải co về cố thủ
trong một vài thành trì kiên cố.
Trong lúc đó, một bộ phận lực lượng khác của Lam Sơn lại bất ngờ đánh vào vùng phía
nam của Nghệ An. Lúc bấy giờ, vùng này mang tên chung là Tân Bình và Thuận Hóa. Kết quả
là, lực lượng quân Minh ở đây đã bị đánh cho tan tành.
Như vậy là từ tháng 10 năm 1424 đến tháng 9 năm 1426, một vùng đất giải phóng rộng
lớn và liên hoàn từ Thanh Hóa trở về Nam đã hình thành và không ngừng được củng cố.
Quyết định táo bạo và rất đúng lúc của Bình Định Vương Lê Lợi đã đem lại kết quả rất mĩ
mãn. Từ đây, tương quan thế và lực giữa Lam Sơn với quân Minh đã hoàn toàn thay đổi. Từ
đây, Lam Sơn bất đầu chuyển hóa, phá bỏ ranh giới chật hẹp của một cuộc khởi nghĩa vũ
trang, vươn lên thành một cuộc chiến tranh giải phóng có quy mô ngày càng lớn.
Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com
MORE EBOOK: https://bookykhoa.com
VI - TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC TỐT ĐỘNG - CHÚC ĐỘNG.
"Ninh Kiều: máu chảy đầy sông, tanh hôi muôn dặm ;
Tốt Động : thây phơi đầy nội, thối để ngàn thu."
(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)
Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi hạ lệnh cho hơn một vạn quân, chia làm ba đạo khác nhau,
cùng tiến ra Bắc, mở đầu một giai đoạn hoạt động mới của Lam Sơn. Các tướng thân tín của
Lê Lợi như : Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả và Đỗ Bí (đạo quân thứ nhất), Bùi Bị, Lưu
Nhân Chú, Lê Trương và Lê Ninh (đạo quân thứ hai), Đinh Lễ, Nguyễn Xí (đạo quân thứ
ba)... v.v. có vinh dự được chỉ huy cuộc hành quân lớn này. Một lần nữa, Lê Lợi đã tỏ rõ niềm
tin tưởng mãnh liệt và sâu sắc đối với lực lượng và tướng lĩnh của mình. Cũng một lần nữa,
Lê Lợi tỏ rõ sự nhạy bén và quyết đoán rất đúng đắn của mình trước sự diễn biến vốn dĩ rất
phức tạp của tình hình chung. Đáp lại niềm tin tưởng mãnh liệt ấy của Lê Lợi, các tướng nói
trên đều gắng sức lập công, đặc biệt là các tướng chỉ huy của đạo quân thứ nhất. Trong vòng
một tháng, họ đã thắng ba trận lớn ở Ninh Kiều (nay thuộc Hà Tây), Nhân Mục (nay thuộc
Hà Nội) và Xa Lộc (nay thuộc Phú Thọ), buộc một loạt các tướng lĩnh cao cấp của quân Minh
phải co về cố t...
 





