Bài ca thư viện

Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Văn hóa đọc trong thời đại số

    Ảnh ngẫu nhiên

    Vai_tro_bao_ve_dat_cua_thuc_vat.png He_tieu_hoa_o_nguoi.png BANG_TUAN_HOAN_CAC_NGUYEN_TO_HOA_HOC.png Bandohoabinh.jpg Image1.jpg Th.jpg Upload_2022616_161555.png 8ed039ea20bf560ca184d28e5256c73e.jpg 46ca8f480c05e55bbc14.jpg Z5579161166251_1260d4c8070451d9056834fa2a35c61e.jpg Z5577753222982_6026ada42142d1e8380112e8dfa0a3be.jpg Z5577753391471_f4b7f60286c4b97e3e2134cfab791914.jpg

    opac tra cứu - tv quốc gia Việt Nam

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS LẠC LƯƠNG - YÊN THỦY - HÒA BÌNH💕💕

    Ý nghiã chiến thắng 30/4

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Danh tướng Việt Nam tập 1

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Mai
    Ngày gửi: 19h:05' 27-06-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    Table of Contents
    LỜI NÓI ĐẦU
    01 - DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ ( ? - 937)
    02 - NGÔ QUYỀN (898 – 944)
    03 - ĐINH BỘ LĨNH (924 – 979)
    04 - LÊ HOÀN (941 – 1005)
    PHẠM CỰ LẠNG ( ? - ?)
    LÝ THƯỜNG KIỆT (1019 – 1105)
    07 - TÔNG ĐẢN (? - ?)
    HOẰNG CHÂN CHIÊU VĂN VÀ LÝ KẾ NGUYÊN
    09 - TRẦN THỦ ĐỘ (1194 – 1264)
    10 - TRẦN THỊ DUNG (? – 1259)
    11- LÊ TẦN ( ? - ?)
    12 - TRẦN HƯNG ĐẠO ( ? – 1300)
    13 - TRẦN QUANG KHẢI (1241 - 1294)
    14 - TRẦN NHẬT DUẬT (1255 - 1330)
    15 - TRẦN KHÁNH DƯ ( ? - 1339)
    16 - TRẦN QUỐC TOẢN (1267 – 1285)
    17 - TRẦN BÌNH TRỌNG (1259 – 1285)
    18 - PHẠM NGŨ LÃO (1255 - 1320)
    19 - ĐỖ KHẮC CHUNG (? – 1330)
    20 - NGUYỄN KHOÁI (? - ?)
    21 - TRẦN KHÁT CHÂN (1370 – 1399)
    22 - NHỮNG TẤM GƯƠNG TIẾT THÁO TIÊU BIỂU DƯỚI THỜI TRẦN

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    NƯỚC VIỆT NAM TA LÀ NƠI PHONG HÓA MỞ MANG, KHÍ TINH HOA TỤ HỌP, ĐÂY LÀ
    NƠI KẾ NGHIỆP CỦA CÁC ĐÁNG MINH QUÂN, NƠI ANH HÙNG HÀO KIỆT ĐỜI NÀO
    CŨNG CÓ, CÔNG LỚN CỦA CÁC BẬC TIÊN HIỀN, HOẶC ĐƯỢC KHẮC GHI Ở ĐỈNH, HOẶC
    TỎA SÁNG NƠI LƯỠI BÚA VÀ CỜ MAO, HOẶC RẠNG NGỜI TRONG VĂN CHƯƠNG SÁCH
    VỞ, HOẶC ĐỌNG LẠI TRONG KHÍ TIẾT ANH TÚ... TẤT CẢ ĐỀU LÀ NHỮNG NGƯỜI CẦN
    ĐƯỢC SỬ SÁCH GHI CHÉP LẠI.

    Phan Huy Chú
    Lịch triều hiến chương loại chí
    (Nhân vật chí)

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    LỜI NÓI ĐẦU
    Bạn đọc yêu quý,
    Đây là tập đầu của bộ sách dài nhiều tập, cùng mang tên gọi chung là DANH TƯỚNG
    VIỆT NAM. Chúng tôi dự kiến chia kế hoạch biên soạn thành hai giai đoạn khác nhau. Trong
    giai đoạn thứ nhất, chúng tôi sẽ cố gắng hoàn tất năm tập đầu. Cụ thể như sau :
    - Tập 1: Danh tướng trong sự nghiệp giữ nước từ đầu thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIV.
    Tập
    2:
    Danh
    tướng
    Lam
    Sơn.
    - Tập 3: Danh tướng trong chiến tranh nông dân thế kỉ XVIII và phong trào Tây Sơn.
    - Tập 4: Danh tướng trong sự nghiệp đấu tranh chống ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc.
    - Tập 5: Danh tướng chống Pháp trước thế kỉ XX.
    Trong giai đoạn thứ hai, chúng tôi sẽ cố gắng biên soạn tiếp các tập giới thiệu danh tướng
    Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay. Hi vọng rằng đến lúc đó, tác giả còn đủ sức khỏe và sự
    minh mẫn để có thể hoàn thành công việc nặng nề này.
    Bạn đọc yêu quý,
    Trải hàng ngàn năm đấu tranh quyết liệt, đất nước đã sản sinh ra không biết bao nhiêu
    người có biệt tài cầm quân, nhưng không phải bất cứ ai có biệt tài cầm quân cũng đều là
    danh tướng cả. Xuất phát từ nhận thức đó, bộ sách này giới thiệu những người có biệt tài
    cầm quân và đã thực sự đem tất cả biệt tài đáng quý đó giúp ích cho sự nghiệp cứu nước cứu
    dân, để công đức lớn cho muôn đời con cháu. Nói khác hơn, họ vừa là người có biệt tài cầm
    quân, lại cũng vừa là người được dân tộc suy tôn là anh hùng. Tuy nhiên cũng có không ít
    những vị anh hùng, tên tuổi ngời ngời trong sử sách, sự nghiệp sáng mãi trong kí ức bất diệt
    của nhân dân, nhưng sinh thời, họ chỉ là những người lính bình thường, chưa bao giờ là
    tướng, dẫu là tướng nhỏ. Trong trường hợp đó, chúng tôi chỉ có thể trân trọng giới thiệu họ
    trong khuôn khổ những tấm gương anh hùng tiết tháo tiêu biểu mà thôi.
    Ngoài ra, trong sự nghiệp giữ nước, cũng có những người gần như chưa bao giờ trực tiếp
    cầm quân, nhưng, những ý kiến xuất sắc của họ lại có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến
    toàn bộ hoạt động của lực lượng vũ trang, đến thắng lợi vẻ vang của cả nước. Nói khác hơn,
    họ thực sự là danh tướng dù chưa bao giờ là võ quan.Chúng tôi kính cẩn ghi tên tuổi của họ
    vào hàng các danh tướng Việt Nam.
    Tên gọi riêng của tập 1 tự nó đã nói lên hai giới hạn cụ thể. Thứ nhất là giới hạn về thời
    gian, và thứ hai là giới hạn về đặc trưng chung. Khái niệm giữ nước ở đây bao hàm cả sự

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    nghiệp chống xâm lăng và sự nghiệp chống các thế lực chia cắt đất nước, làm phương hại đến
    truyền thống đạo đức cũng như tiềm lực quốc gia.
    Bạn đọc yêu quý,
    Để viết bộ sách này, chúng tôi dựa hẳn vào ghi chép của các bộ chính sử xưa, như : Đại
    Việt sử lược, Đại Việt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục...v.v..
    cùng nhiều thư tịch cổ khác. Trong một vài trường hợp đặc biệt, chúng tôi mới sử dụng tài
    liệu khảo cứu của những người đi trước (ví dụ : Trong tập 1 này chúng tôi chỉ sử dụng có ba
    tư liệu nhỏ của các tác giả Sổ tay nhân vật lịch sử Việt Nam- NXB Giáo dục 1990, mà thôi). Tất
    nhiên, sử cũ không thể ghi chép hết tên tuổi và sự nghiệp của các vị danh tướng, cho nên, chắc
    chắn là bộ sách này chưa thể giới thiệu một cách đầy đủ các danh tướng Việt Nam. Đó là
    chưa kể rằng, cũng có những trường hợp, tuy sử cũ có ghi chép, nhưng ghi chép quá ít ỏi,
    không đủ để tái hiện, dù chỉ tái hiện một cách sơ sài. Vì không dám sơ sài, chúng tôi xin được
    để lại, chờ khi có điều kiện sẽ viết bổ sung sau.
    Bạn đọc yêu quý,
    Giờ đây, đất nước thái bình, vận hội mới mỗi ngày một tốt đẹp, tác giả thực sự lấy làm
    mãn nguyện vì được trở về nguyên vẹn sau bao năm bom lửa của chiến tranh, lại còn được
    thanh thản ngồi đọc sách xưa và kể chuyện người xưa. Với tất cả tâm thành, tác giả xin được
    cám ơn Nhà xuất bản Giáo dục và bạn đọc gần xa, những người đã trực tiếp hoặc gián tiếp cổ
    vũ cho tác giả một cách hào phóng và vô tư, khiến tác giả cảm kích, cần mẫn viết tất cả những
    gì tự thấy là bổ ích. Dẫu đã rất cố gắng, bộ sách này chắn chắn cũng không sao tránh khỏi
    những khiếm khuyết. Tác giả mong mỏi được bạn đọc gần xa vui lòng chỉ bảo cho.

    TP Hồ Chí Minh ngày 01- 01- 1996
    NGUYỄN KHẮC THUẦN

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    01 - DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ ( ? - 937)

    “Khi Lý Khắc chính bắt được (Khúc) Thừa Mỹ, (Dương) Đình Nghệ bèn tìm cách đánh
    báo thù. Ông chiêu tập hào kiệt, dùng đại nghĩa để khuyến khích, cùng hợp mưu để dánh
    đuổi tướng (Nam) Hán là Lý Khắc Chính. Vua (Nam) Hán sai Lý Tiến sang làm Thứ Sử Giao
    Châu (thay cho Lý Khắc Chính). Dương Đình Nghệ lại đem quân vây hãm Lý Tiến. Vua
    (Nam) Hán liền sai Trần Bảo sang cứu Lý Tiến. Dương Đình Nghệ đón đánh và chém được
    Trần Bảo. (Từ đó), Dương Đình Nghệ giữ lấy châu thành, tự xưng là Tiết Độ Sứ, nhận lãnh
    mọi việc của châu".
    Ngô Thì Sĩ
    (Việt sử tiêu án)
    Trong sử cũ, thỉnh thoảng, Dương Đình Nghệ cũng được chép là Dương Diên Nghệ. Điều
    này cũng dễ hiểu, bởi lẽ trong Hán tự, mặt chữ Đình và chữ Diên gần giống nhau, rất dễ
    nhầm lẫn khi đọc cũng như khi sao chép. Dương Đình Nghệ sinh năm nào chưa rõ. Hiện tại,
    chúng ta chỉ biết ông mất vào năm 937. Tuy nhiên, xét việc ông nhận con nuôi và chọn con
    rể, cộng với một vài chi tiết có liên quan khác, cũng có thể ước đoán ông đã hưởng thọ
    khoảng trên dưới năm mươi tuổi.
    Dương Đình Nghệ vốn là một hào trưởng, người làng Dàng. Làng này, nay thuộc xã
    Dương Xá, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa. Thời Khúc Hạo cầm quyền (907 - 917), Dương
    Đình Nghệ từng là một trong những bộ tướng của họ Khúc. Năm 917, Khúc Hạo mất, con là
    Khúc Thừa Mỹ lên nối nghiệp cha, Dương Đình Nghệ tiếp tục làm bộ tướng cho Khúc Thừa
    Mỹ (917 - 930).
    Bấy giờ, Trung Quốc đang trong thời loạn lạc, các tập đoàn thống tri không ngớt tìm
    cách chia bè kết cánh và xâu xé lẫn nhau. Một loạt các tiểu vương quốc lần lượt ra đời. Sử
    gọi đó là thời Ngũ đại thập quốc (năm đời mười nước).
    (Năm đời gồm : Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Còn như mười
    nước, nếu so với bản đồ Trung Quốc hiện dại thì : Ngô (ở An Huy), Tiền Thục (ở Tứ Xuyên),
    Ngô Việt (ở Chiết Giang), Sở (ở Hồ Nam), Mân (ở Phúc Kiến), Nam Hán (ở Quảng Đông),
    Nam Bình (ở Hồ Bắc), Hậu Thục (cũng ở Tứ Xuyên), Nam Đường (ở Giang Tô) và Bắc Hán (ở
    Sơn Tây).

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    Sát biên giới phía bắc nước ta là Nam Hán - một tiểu vương quốc do họ Lưu lập nên.
    Trong bối cảnh phức tạp đó, sự khôn khéo trong quan hệ bang giao có ảnh hưởng rất to lớn
    đối với vận mệnh quốc gia. Khúc Hạo nhận thức rất đầy đủ về vấn đề này, rất tiếc là Khúc
    Thừa Mỹ lại không kế thừa được kinh nghiệm quý giá đó. Khúc Thừa Mỹ thường gọi Nam
    Hán là "ngụy triều", "ngụy tặc” và chính lời lẽ thiếu tế nhị đó đã có tác dụng khiêu khích
    Nam Hán. Sẵn có mưu đồ bành trướng từ trước, nhân được thêm cơ hội này, năm 930, Nam
    Hán đã xua quân sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến chống Nam Hán do Khúc Thừa
    Mỹ chỉ huy đã nhanh chóng thất bại.
    Sau thất bại của Khúc Thừa Mỹ, vai trò của họ Khúc trên vũ đài chính tri của nước nhà
    cũng kể như chấm dứt. Triều đình Nam Hán tuy chưa kịp thiết lập một hệ thống chính
    quyền đô hộ vững chắc trên toàn cõi nước ta, nhưng, nguy cơ bị ngoại bang thống trị lâu dài
    cũng đã thể hiện rất rõ. Trước tình hình như vậy, Dương Đình Nghệ đã quả cảm đảm nhận
    trọng trách lãnh đạo nhân dân vùng lên giành lại độc lập và chủ quyền. Từ một vị hào
    trưởng - một bộ tướng thân tín của Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ đã trở
    thành một vị danh tướng, có công lớn đối với nước nhà. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm,
    Dương Đình Nghệ đã ba lần đánh đuổi ba đạo quân lớn của Nam Hán do ba viên tướng khét
    tiếng khác nhau cầm đầu.
    Lần thứ nhất : Diễn ra ngay sau khi Khúc Thừa Mỹ thất bại trong việc chỉ huy cuộc
    kháng chiến chống quân Nam Hán xâm lăng. Từ quê nhà, Dương Đình Nghệ đã tập hợp
    được hơn ba ngàn quân, tự mình làm tướng, đánh thẳng vào lực lượng của Nam Hán lúc bấy
    giờ đang đóng rải rác ở khu vực Hà Nội ngày nay. Tướng giặc là Lý Khắc Chính bị đại bại.
    Lần thứ hai : Nhà Nam Hán cho Lý Tiến sang thay Lý Khắc Chính và sẵn sàng đối phó
    một cách kiên quyết với Dương Đình Nghệ. Nhưng, Lý Tiến chưa kịp thực hiện sứ mạng
    được giao thì đã bị Dương Đình Nghệ đánh cho tơi bời. Lý Tiến phải hốt hoảng chạy về
    nước để cầu cứu.
    Lần thứ ba : Nhận lời kêu cứu của Lý Tiến, Nam Hán lập tức sai tướng Trần Bảo đem
    quân sang đàn áp. Nhưng, khi Trần Bảo tới, thành Giao Châu đã bị mất. Trần Bảo bèn cho
    quân vây thành, quyết tiêu diệt bằng được Dương Đình Nghệ. Trong trận giao tranh đầu
    tiên, Trần Bảo bị chém đầu, toàn bộ quân sĩ Nam Hán hoảng hốt bỏ chạy thục mạng. Từ đó,
    giặc Nam Hán không dám đụng tới Dương Đình Nghệ nữa.
    Bấy giờ, Nam Hán không phải là một nước lớn, lực lượng quân đội của chúng cũng
    không phải là hùng mạnh hơn người, nhưng, nước ta vừa mới giành được độc lập, dân ta
    còn ít, tiềm lực của ta còn yếu... cho nên, đây cũng thực sự là một cuộc đối đầu hoàn toàn
    không cân sức. Để giành được thắng lợi vẻ vang và liên tục như Dương Đình Nghệ, ngoài chí
    lớn phi thường, hẳn nhiên là còn phải có mưu lược phi thường. Ông thật sự xứng đáng được
    xếp vào hàng những bậc danh tướng của nước nhà.
    Năm 931, sau khi lập nên những võ công xuất sắc như đã kể ở trên, Dương Đình Nghệ tự
    xưng là Tiết Độ Sứ, tự mình quản lí và điều hành các công việc của nước nhà. Tiết Độ Sứ là
    tên chức quan đô hộ của Trung Quốc đối với nước ta, được Trung Quốc đặt ra kể từ khoảng
    cuối thời Bắc thuộc. Đối với Dương Đình Nghệ, đây chẳng qua là một danh xưng tạm dùng,
    cốt tạo ra sự tế nhị cần thiết trong quan hệ bang giao. Trong thực tế, ông chính là vua của
    nước ta.

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    Tháng ba năm Đinh Dậu (937), Dương Đình Nghệ bị một kẻ phản phúc giết hại. Kẻ đó là
    Kiều Công Tiễn. Chua xót thay, Kiều Công Tiễn lại cũng chính là con nuôi và là một trong
    những nha tướng từng được Dương Đình Nghệ cưu mang và tin cậy. Sau đó chẳng bao lâu,
    Kiều Công Tiến bị Ngô Quyền giết chết. Đó là bản án đích đáng dành cho kẻ bất trung, bất
    nghĩa, phản phúc, phản chủ và phản dân.

    02 - NGÔ QUYỀN (898 – 944)

    "Tiền Ngô Vương lấy quân mới họp của nước Việt ta, đánh tan cả trăm vạn quân của Lưu
    Hoằng Tháo, mở nước và xưng vương làm cho bọn người Bắc không dám sang nữa. Có thề
    nói là (Tiền Ngô Vương) một lần nổi giận mà khiến cho trăm họ được yên, mưu đã giỏi mà
    đánh cũng giỏi. Tuy chỉ mới xưng vương, chưa lên ngôi Hoàng Đế, cũng chưa đặt niên hiệu,
    nhưng quốc thống của ta cơ hồ đã được nối lại rồi vậy".
    Lê Văn Hưu
    (1230 – 1322)
    1. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ
    Ngô Quyền người đất Đường Lâm. Đất này nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Nơi đây
    hiện còn có lăng và đền thờ Ngô Quyền. Về tiểu sử của Ngô Quyền, sách Đại Việt sử kí toàn
    thư (ngoại kỉ, quyển 5, tờ 20-b) chép rằng :
    "Thân phụ (của Ngô Quyền) là (Ngô) Mân, làm chức Châu Mục ở bản châu (tức châu
    Đường Lâm - NKT). Khi Vua (chỉ Ngô Quyền - NKT) mới sinh, đầy nhà có ánh sáng lạ. Vua có
    ba nốt ruồi ở lưng, dáng mạo thật khác thường, thầy bói cho là có tướng tốt, có thể làm chúa
    cả một phương, vì thế (thân phụ của Vua) mới đặt tên (cho Vua) là Quyền. (Vua) lớn lên,
    khôi ngô tuấn tú, mắt sáng như chớp, dáng đi như hổ, gồm đủ trí và dũng, sức có thể nâng
    được vạc lớn. (Vua từng) làm Nha Tướng cho Dương Đình Nghệ (cũng tức là Dương Diên
    Nghệ, người đứng đầu chính quyền độc lập và tự chủ từ năm 931 đến năm 937 - NKT),

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    được (Dương) Đình Nghệ gả con gái cho, đồng thời, trao quyền cai quản vùng Ái Châu (tức
    vùng thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay - NKT)".
    Các bộ chính sử cũ đều chép rằng, Dương Đình Nghệ có người con nuôi, tên là Kiều Công
    Tiễn. Kiều Công Tiễn là kẻ bất hiếu, bất nghĩa và bất trung, kẻ bạo ngược hiếm thấy trong
    lịch sử. Tháng ba năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn đã giết chết Dương Đình Nghệ rồi
    đoạt lấy chức quyền. Căm phẫn trước hành động đó, tháng 12 năm Mậu Tuất (938), từ Ái
    Châu, Ngô Quyền đã đem quân ra hỏi tội Kiều Công Tiễn. Hoảng sợ trước lực lượng của Ngô
    Quyền, Kiều Công Tiễn đã sai sứ đem của cải sang đút lót cho vua nước Nam Hán để cầu
    cứu. Nam Hán nhân đó cho quân sang xâm lược nước ta. Ngô Quyền lập tức giết chết Kiều
    Công Tiễn, chật đứt chỗ dựa nguy hiểm của quân xâm lăng, đồng thời, đánh trận quyết
    chiến chiến lược với quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (cũng vào tháng 12 năm 938),
    quét sạch kẻ thù ra khỏi bờ cõi.
    Mùa xuân năm Kỉ Hợi (939), Ngô Quyền xưng vương, lập triều nghi, đặt phẩm phục,
    dựng nền độc lập và tự chủ, đóng đô ở Cổ Loa. Về việc làm sau chiến thắng của Ngô Quyền,
    sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét :
    “Tiền Ngô Vương nổi lên, không chỉ có công thắng trận mà còn đặt trăm quan, chế định
    triều nghi và phẩm phục, có thể nói là có tầm vóc của đấng Đế Vương". (Đại Việt sử kí toàn
    thư, ngoại kỉ, quyển 5, tờ 2 1 a-b).
    Năm Giáp Thìn (944), Ngô Quyền mất, hưởng dương 46 tuổi. Không rõ Ngô Quyền có tất
    cả bao nhiêu người con, nhưng có hai người con trai được sử sách chép tới. Một là Ngô
    Xương Văn do bà Dương Thị Như Ngọc (con gái của Dương Đình Nghệ) sinh hạ, chưa rõ là
    vào năm nào. Năm 951, Ngô Xương Văn lên nối ngôi (trước đó, từ năm 944 đến năm 950,
    ngôi vua bị em vợ của Ngô Quyền là Dương Tam Kha chiếm đoạt), xưng là Nam Tấn Vương.
    Năm 965, Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn chết khi đi đánh dẹp ở vùng đất thuộc tỉnh Thái
    Bình ngày nay. Người con trai thứ hai của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập. Ngô Xương Ngập
    là anh của Ngô Xương Văn, nhưng khi Dương Tam Kha chiếm ngôi, Ngô Xương Ngập phải
    chạy đi lánh nạn, vì thế, phải đến cuối năm 951, Ngô Xương Ngập mới được em đón về. Cả
    hai anh em cùng làm vua, sử gọi đó là thời Hậu Ngô Vương. Ngô Xương Ngập xưng là Thiên
    Sách Vương, nhưng chỉ ở ngôi được ba năm thì mất (vào năm 954) vì bị bệnh.
    Các con của Ngô Quyền đều không phải là những người có tài cầm quân và trị nước, vì
    thế, loạn lạc dã liên tiếp xảy ra ngay khi họ đang ở ngôi. Sau khi Thiên Sách Vương rồi Nam
    Tấn Vương lần lượt qua đời, đất nước lâm vào một thời kì hỗn chiến ác liệt giữa các thế lực
    cát cứ, sử gọi đó là thời Loạn mười hai sứ quân. Năm Đinh Mão (967), Đinh Bộ Lĩnh mới dẹp
    được cuộc hỗn chiến tương tàn này.
    2. NGÔ QUYỀN VỚI TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC Ở BẠCH ĐẰNG NĂM MẬU TUẤT
    (938)
    Vài nét về Nam Hán

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    Kẻ bị Ngô Quyền đánh cho đại bại là quân Nam Hán, vậy, Nam Hán là ai ? Mưu đồ cụ thể
    của quân Nam Hán đối với nước ta lúc bấy giờ như thế nào ?
    Chính sử của Trung Quốc cho hay, năm Đinh Mão (907), nhà Lương sụp đổ, Trung Quốc
    lâm vào một thời là loạn lạc, sử gọi là thời Ngũ Đại Thập Quốc (nghĩa là năm đời mười
    nước) . Ngũ Đại gồm : Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Còn Thập
    Quốc thì gồm có :
    - Nước Ngô do Dương Hành Mật lập nên ở vùng An Huy của Trung Quốc ngày nay.
    - Tiền Thục do Vương Kiến lập nên ở vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc ngày nay.
    - Ngô Việt do Tiền Cù lập nên ở vùng Chiết Giang của Trung Quốc ngày nay.
    - Nước Sở do Mã Ân lập nên ở vùng Hồ Nam của Trung Quốc ngày nay.
    - Nước Mân do Vương Thẩm Tri lập nên ở vùng Phúc Kiến của Trung Quốc ngày nay.
    - Nam Hán do Lưu Ẩn lập nên ở vùng Quảng Đông của Trung Quốc ngày nay.
    - Nam Bình do Cao Bảo Dung lập nên ở vùng Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay.
    - Hậu Thục do Mạnh Tri Tường lập nên, cũng ở vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc ngày
    nay.
    - Nam Đường do Lý Thăng lập nên ở vùng Giang Tô của Trung Quốc ngày nay.
    - Bắc Hán do Lưu Sùng lập nên ở vùng Sơn Tây của Trung Quốc ngày nay.
    Như vậy, trong số mười nước kể trên, Nam Hán là nước có chung đường biên giới với
    nước ta, qua lại nước ta dù là bằng đường bộ hay đường biển đều thuận tiện. Vua sáng
    nghiệp của Nam Hán là Lưu Ẩn (cũng tức là Lưu Nghiễm, Lưu Yêm, Lưu Thiệp hay Lưu Cung
    ...) vốn là kẻ kiệt hiệt. Nam Hán có tiềm lực khá mạnh. Tháng 7 năm Canh Dần (930), vua
    Nam Hán từng sai tướng Lý Khắc Chính (cũng có sách chép là Lương Khắc Chính) đem quân
    sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến do Khúc Thừa Mỹ lãnh đạo bị thất bại, nước ta bị
    quân Nam Hán thống trị từ cuối năm 930 đến cuối năm 931. Tháng 12 năm 931, vì bị
    Dương Đình Nghệ đem quản từ Ái Châu (Thanh Hóa) ra tấn công bất ngờ và dồn dập, chúng
    mới phải tháo chạy về nước.
    Thời Dương Đình Nghệ đứng đầu chính quyền độc lập và tự chủ (từ cuối năm 931 đến
    dầu năm 937), Nam Hán cũng từng nuôi tham vọng xâm lăng nước ta, vừa để có thể bành
    trướng xuống phương Nam, vừa rửa mối nhục thất bại như đã nói ở trên, nhưng chúng
    chưa có cơ hội thực hiện. Cuối năm Mậu Tuất (938), nhân được Kiều Công Tiễn cầu cứu,
    Nam Hán bèn quyết chí sang đánh nước ta lần thứ hai.
    Bấy giờ, Nam Hán không phải là nước lớn, nhưng ta lại là một nước nhỏ, đất đai đại để
    mới từ vùng Quảng Bình trở ra mà thôi. Tính chất nguy hiểm của cuộc xâm lăng này không
    phải chỉ có từ phía quân Nam Hán mà còn có cả ở phía lực lượng phản dân hại nước do Kiều
    Công Tiễn cầm đầu. Vua Nam Hán tự mình soạn thảo kế hoạch, bất chấp mọi lời can ngăn
    của quan lại dưới quyền. Con trai của vua Nam Hán là Vạn Vương Lưu Hoằng Thao được cử
    làm tướng tổng chỉ huy quân xâm lăng. Bản thân vua Nam Hán thì điều thêm quân ra đóng

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    ở Hải Môn (vùng Tây Nam, huyện Bác Bạch, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay) để làm
    thanh viện.
    Quần thần vẫn tiếp tục can ngăn. Vua Nam Hán bèn đến hỏi ý của quan giữ chức Sùng
    Văn Sứ là Tiêu Ích. Và, Tiêu Ích đã trả lời một cách rất khôn ngoan, vừa không làm phật lòng
    vua Nam Hán, vừa có thể giữ yên thân mình. Tiêu Ích nói :
    - Nay mưa dầm đã mấy tuần mà đường biển thì xa xôi và nguy hiểm, trong khi đó, Ngô
    Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể nào khinh suất được. Đại quân của ta phải tiến một
    cách thận trọng và chắc chắn, tốt nhất, hãy nên dùng người hướng đạo đi trước rồi sau hãy
    cất quân đi.” (Đại việt sử kí toàn thư, ngoại kỉ, quyển 5, tờ 19-a).
    Nhưng vua Nam Hán vẫn không nghe theo lời khuyên của Tiêu Ích. Tháng 12 năm Mậu
    Tuất (938), quân Nam Hán rầm rộ vượt biển tiến vào nước ta qua ngả sông Bạch Đằng.
    Bạch Đằng là một con sông ngắn nhưng rất rộng và sâu. Sông vốn có tên Nôm là sông
    Rừng, nhưng vì sông này thường có sóng bạc nổi lên, nhân đó mới có tên chữ là Bạch Đằng.
    Cửa sông Bạch Đằng xưa nay đều có tên là cửa Nam Triệu, cũng vì thế, con sông này còn có
    tên là sông Nam Triệu. Tuy nhiên, cửa Nam Triệu thời Ngô Quyền nằm ở vị trí sâu hơn, vào
    khoảng ngã ba của sông Cấm và sông Bạch Đằng hiện nay. Sở dĩ có sự khác biệt này là vì sự
    vận động địa chất, dẫn đến sự biến đổi địa hình của vùng Đông Bắc nước ta trong bơn một
    ngàn năm qua. Từ vùng biển Đông Bắc, Bạch Đằng là con sông tiện lợi nhất để thủy quân có
    thể men theo đó mà tiến sâu vào lãnh thổ nước ta.
    Trận Bạch Đằng
    Cuối năm 938, để cứu nguy cho vận nước, Ngô Quyền đã có hai quyết đinh quan trọng.
    Một là nghiêm trị Kiều Công Tiễn, kẻ đã giết hại Dương Đình Nghệ và sau đó đã cam tâm đi
    cầu cứu quân Nam Hán. Giết Kiều Công Tiễn tức là tiêu diệt chỗ dựa của quân xâm lăng. Giết
    Kiều Công Tiễn tức là để bảo vệ đạo lí và nghĩa khí của dân tộc. Giết Kiều Công Tiễn cũng
    tức là để tạo ra sự ổn định hậu phương trước khi đại quân xuất trận. Hai là Ngô Quyền đã
    vạch kế hoạch đánh gục quân Nam Hán xâm lăng. Binh pháp cổ thường nhấn mạnh câu tri
    bỉ tri kỉ, bách chiến bách thắng (biết người biết ta, trăm trận trăm thắng). Những ghi chép
    của sử cũ cho thấy Ngô Quyền đã biết rất rõ mưu đồ của quân Nam Hán lúc bấy giờ. Sách
    Đại Việt sử kí toàn thư (ngoại kỉ, quyển 5, tờ 19-b) chép rằng :
    "Ngô Quyền nghe tin Hoằng Thao sắp đến, liền nói với các tướng dưới quyền rằng :
    - Hoằng Thao là đứa trẻ khờ dại. Hắn đem quân từ cõi xa đến, lính tráng đều mỏi mệt, đã
    thế, lại nghe tin Kiều Công Tiễn đã bị giết rồi. Mất kẻ nội ứng, hẳn nhiên là chúng đã bị mất
    vía từ trước. Ta nay lấy quân khỏe mạnh để đánh quân mỏi mệt, ắt là phải phá được.
    Nhưng, bọn chúng lợi thế ở chiến thuyền, nếu ta không lo phòng bị trước thì chưa biết sẽ ra
    sao. Nay, nếu ta sai người đem cọc lớn, vạt nhọn và bịt sắt, ngắm đóng sẵn ở cửa biển, rồi
    nhân khi nước triều lên cao (che khuất bãi cọc) mà dụ cho chiến thuyền của chúng tiến vào
    thì sau đó ắt sẽ dễ bề chế ngự, quyết không cho chiếc nào chạy thoát".
    Xưa nay, cửa sông Bạch Đằng đều rất sâu, có chỗ sâu đến 18 mét. Độ sâu ấy, không cho
    phép đóng cọc theo lối giăng ngang mà chỉ có thể đóng ở hai bên mé sông, nơi thuyền bè

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    thường xuôi ngược. Công việc dựng bãi cọc gỗ vạt nhọn và bịt sắt được tiến hành khẩn
    trương nhưng cũng rất công phu. Hàng ngàn người được huy động đi đốn cây. Hàng trăm
    thợ được điều đến để bịt sắt vào cọc gỗ. Đông đảo quân sĩ đã tham gia vào việc tạo dựng bãi
    cọc này. Trước khi giao chiến với Hoằng Thao, Ngô Quyền đã nghiên cứu rất kĩ chế độ thủy
    văn của sông Bạch Đằng và chính phần hiểu biết quan trọng này đã dự phần không nhỏ vào
    thắng lợi chung.
    Sau khi hoàn tất bãi cọc gỗ, Ngô Quyền đã bố trí lực lượng như sau :
    - Đại binh của Ngô Quyền bố trí ở ngay phía sau bãi cọc gỗ, tất cả được mai phục sẵn
    trong những lùm cây mọc đầy ở ven sông.
    - Phía tả ngạn sông Bạch Đằng là đạo quân do Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ,
    em vợ của Ngô Quyền) chỉ huy.
    - Phía hữu ngạn là đạo quân do Ngô Xương Ngập (con trai của Ngô Quyền) và tướng Đỗ
    Cảnh Thạc chỉ huy.
    - Vị tướng trẻ có tài bơi lội và rất thông thuộc sông nước Bạch Đằng là Nguyễn Văn Tố
    được giao nhiệm vụ ra phía trước bãi cọc để khiêu chiến.
    Về diễn biến của trận Bạch Đằng, sách Đại Việt sử kí toàn thư (ngoại kỉ, quyển 5, tờ 19-b
    và tờ 20-a) chép như sau :
    “Định xong kế sách rồi, (Ngô Quyền) bèn cho đóng cọc gỗ ở hai bên cửa sông. Khi nước
    triều lên, (Ngô) Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả thua để dụ địch đuổi
    theo. Bọn Hoằng Thao quả nhiên tiến nhanh vào. Khi chiến thuyền của chúng đã nằm hết ở
    trong bãi cọc thì thủy triều cũng vừa rút, khiến cho cọc nhô dần lên. Bấy giờ, (Ngô) Quyền
    mới tung quân ra, ai nấy cũng đều liều chết để chiến đấu. Nước triều rút quá nhanh, quân
    Hoằng Thao trở thuyền không kịp nên đều vướng cọc mà lật úp. Lũ giặc rối loạn rồi tan vỡ,
    quân lính chúng chết đuối đến hơn một nửa. (Ngô) Quyền thừa thắng đánh đuổi rất gấp, bắt
    được Hoằng Thao, đem giết đi. Vua Nam Hán (đóng ở Hải Môn, nghe tin dữ) liền thương
    khóc, thu nhặt tàn quân (của Hoằng Thao tháo chạy đến) và rút về. Vua Nam Hán cho rằng,
    tên mình là Lưu Cung thật đáng ghét lắm vậy.”
    Danh thơm còn mãi với thiên thu
    Trận Bạch Đằng năm 938 là một trong những trận thủy chiến xuất sắc của lịch sử nước
    nhà. Với chiến thắng này, Ngô Quyền đã đè bẹp hoàn toàn tham vọng bành trướng xuống
    phương Nam của Nam Hán, khẳng định một cách hiên ngang kỉ nguyên độc lập và tự chủ
    của nước nhà. Với chiến thắng này, Ngô Quyền thực sự trở thành một anh hùng dân tộc,
    một thiên tài quân sự của nước nhà. Ngô Quyền đã để lại cho hậu thế những kinh nghiệm vô
    giá trong tổ chức và chỉ huy thủy chiến. Ông là người đầu tiên dùng bãi cọc và cũng là người
    đầu tiên biết tận dụng thủy triều vào trận mạc. Trận Bạch Đằng năm 938 là một trong
    những trận mẫu mực của sự hợp đồng tác chiến giữa thủy binh với bộ binh, cũng là một
    trong những trận mẫu mực của sự kết hợp hài hòa giữa mai phục với tấn công tiêu diệt. Từ
    trận Bạch Đằng, tên tuổi và sự nghiệp của Ngô Quyền chói sáng trong sử sách và trong kí ức
    bất diệt của các thế hệ nhân dân ta. Trong Việt sử tiêu án, Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780) viết :

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    "Nếu không có trận đại thắng này thì nhuệ khí của bọn Lưu Nghiễm vẫn còn, và cái cơ bị
    ngoại thuộc lại dần dần nổi lên. Cho nên, trận Bạch Đằng chính là gốc rễ của sự khôi phục
    quốc thống. Sau này, các đời Đinh, Lê, Lý, Trần...cũng được nhờ ở dư âm của sự oanh liệt ấy.
    Võ công hiển hách của Ngô Quyền, thực sự là để tiếng thơm đến muôn đời chứ đâu phải chỉ
    sáng tỏ trong nhất thời đâu".
    Sau thất bại thảm hại ở Bạch Đằng, nước Nam Hán vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển
    thêm một thời gian nữa, nhưng trong suốt thời gian đó, chúng không dám bén mảng đến
    nước ta. Nhận xét về thực trạng của Nam Hán lúc bấy giờ, sử thần Ngô Sĩ Liên viết :
    "Lưu Cung tham đất của người, muốn mở rộng bờ cõi, nhưng đất không lấy được mà lại
    để mất đứa con của mình, đã thế, còn gây hại cho dân. Mạnh Tử nói "đem cái mình chẳng
    yêu mà hại cái mình yêu", đại để là như thế này chăng ?".

    03 - ĐINH BỘ LĨNH (924 – 979)

    “(Đinh) Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt, mưu lược hơn người, dũng cảm nhất đời,
    đương khi nước Việt ta không có chúa, hùng trưởng đua nhau cát cứ...một phen cất quân
    mà khiến cả mười hai sứ quân đều phải hàng phục. Vua mở nước định đô, đổi xưng là
    Hoàng Đế, chia đặt bách quan và sáu quân, chế độ gần như đã đầy đủ. Có lẽ trời đã vì nước
    Việt mà lại sinh đấng thánh triết...".
    Lê Văn Hưu
    (Đại Việt sử kí toàn thư , bản kỉ, quyển 1, tờ 2-b và 3-a)

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    1. THUỞ THIẾU THỜI
    Đinh Bộ Lĩnh là con của Đinh Công Trứ. Thời Dương Đình Nghệ (931 - 937), Đinh Công
    Trứ được trao chức Thứ Sử Hoan Châu (nay là vùng Nghệ An). Thời Ngô Quyền (938 - 944),
    Đinh Công Trứ cũng tiếp tục được trao chức ấy, nhưng chưa được bao lâu thì mất. Thân
    mẫu của Đinh Bộ Lĩnh người họ Đàm, còn như tên húy của bà là gì thì hiện vẫn chưa rõ.
    Đinh Bộ Lĩnh sinh năm Giáp Thân (924) tại quê cha là động Hoa Lư, châu Đại Hoàng
    (nay là huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình), mất năm Kỉ Mão (979), thọ 55 tuổi. Do thân sinh đi
    làm quan ở xa, cuộc đời của Đinh Bộ Lĩnh gắn bó với thân mẫu nhiều hơn. Sau khi Đinh
    Công Trứ qua đời, Đinh Bộ Lĩnh cùng thân mẫu dắt díu nhau về dựng nhà và lập nghiệp tại
    khu vực cạnh đền Sơn Thần động Hoa Lư.
    Thuở thiếu thời, Đinh Bộ Lĩnh đã có tính cách khá đặc biệt. Sử cũ viết về thời niên thiếu
    của Đinh Bộ Lĩnh như sau :
    “Vương (chỉ Đinh Bộ Lĩnh - NKT) lúc nhỏ thường cùng lũ trẻ chăn trâu ở chốn núi rừng
    vui chơi, được chúng tôn là bậc huynh trưởng. Chúng vẫn thường lấy lễ (đại để như) vua tôi
    để giúp Vương. Khi vui chơi đùa giỡn, bọn trẻ thường đấu tay làm kiệu để khiêng Vương đi,
    lại còn lấy bông lau giả làm cờ cho đi trước để dẫn đường, chia làm tả hữu hai phía để theo
    hầu, nghi vệ chẳng khác gì Thiên Tử. Lúc rảnh rỗi, lũ trẻ lại giục nhau đi kiếm củi về cho
    Vương, làm y như thể là nạp thuế vậy. Chiều đến, bà thân mẫu của Vương thấy vậy thì vui
    mừng, bèn mổ heo đãi chúng. Các bậc trưởng lão trong làng đều nói :
    - Đứa trẻ có khí chất và dung nghi phi thường này ắt sẽ trở thành đấng cứu đời, đem lại
    yên lành cho muôn dân. Bọn ta nếu không sớm theo về, để ngày khác hối hận thì đã muộn.
    Nói rồi, họ thúc giục con em mình theo Vương" (Đại Việt sử lược - quyển 1).
    Thời trai trẻ, Đinh Bộ Lĩnh được dồn dập chứng kiến những biến cố lớn lao của lịch sử
    nước nhà. Đó là thời họ Khúc khôn khéo đặt nền tảng đầu tiên cho kỉ nguyên độc lập và tự
    chủ. Đó là thời Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền liên tiếp đánh bại quân Nam Hán xâm lăng.
    Đó là thời mà thân sinh của Đinh Bộ Lĩnh từng góp phần vào sự nghiệp chung, làm rạng
    danh gia tộc. Nhưng, đó cũng là thời đau thương. Sau khi Ngô Quyền qua đời, chính quyền
    trung ương mau chóng suy yếu, các thế lực cát cứ ở khắp các địa phương lần lượt nổi lên.
    Đất nước loạn li bởi cuộc hỗn chiến giữa các thế lực cát cứ ấy. Theo quy luật đào thải
    nghiêm khắc và lạnh lùng, tất cả các thế lực yếu đều mau chóng bị tiêu diệt, các thế lực
    mạnh thì tồn tại lâu hơn. Cuối cùng, cả nước còn lại 12 thế lực mạnh, sử gọi đó là loạn mười
    hai sứ quân.
    Danh sách 12 sứ quân này cụ thể như sau :
    01. Ngô Xương Xí chiếm giữ đất Bình Kiều (Nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh
    Hoá).
    02. Kiều Công Hãn chiếm giữ đất Phong Châu (Nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú
    Thọ) và xưng là Kiều Tam Chế.
    03. Kiều Thuận chiếm giữ đất Hồi Hồ (Thời Hán, đó là đất Cẩm Khê. Thời Lê, đó là đất
    huyện Hoa Khê. Nay là đất huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ) và xưng là Kiều Lệnh Công.

    Download Ebook Tai: https://downloadsachmienphi.com

    MORE EBOOK: https://bookykhoa.com

    04. Nguyễn Khoan chiếm giữ đất Tam Đái (Nay thuộc huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc),
    xưng là Nguyễn Thái Bình.
    05. Ngô Nhật Khánh chiếm giữ đất Đường Lâm (Nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây),
    xưng là Ngô Lãm Công.
    06. Đỗ Cảnh Thạc chiếm đất Đỗ Động Giang (Nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây),
    xưng là Đỗ Cảnh Công.
    07. Lý Khuê chiếm giữ đất Siêu Loại (Nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) và
    xưng là Lý Lãng Công.
    08. Lữ Đường (cũng đọc là Lã Đường), chiếm giữ đất Tế Giang (Nay thuộc huyện Mỹ
    Văn, tỉnh Hưng Yên) và xưng là Lữ Tá Công.
    09. Nguyễn Thủ Tiệp chiếm giữ đất Tiên Du (Nay thuộc h...
     
    Gửi ý kiến